- “Ông chủ lớn” Nguyễn Đức Phương và những câu chuyện huyền thoại (1)
Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh có một nhánh ít người biết đến nhưng vô cùng độc đáo, vô cùng hiệu quả, âm thầm lặng lẽ cung cấp lương thực, xăng dầu, thuốc men, vũ khí… cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Đó là tuyến đường C4, dài hơn 700km, từ cảng Sihanoukville lên đồn Đôn Phầy, nối sang đồn Tà Ngâu đều thuộc đất Campuchia và cũng là điểm cuối cùng của Bình trạm 37 (Đoàn 559). Chỉ huy tuyến đường là người cũng rất đặc biệt: Một trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam, đóng vai “ông chủ lớn”.
Thu mua lương thực vùng Hạ Lào
…Một ngày tháng 7/1963, đang là học viên Trường Văn hóa Quân đội đóng ở Lạng Sơn, Trung tá Nguyễn Đức Phương được Bộ Quốc phòng gọi về Hà Nội nhận nhiệm vụ đặc biệt.
Nhiệm vụ quan trọng như thế nào mà đích thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao, Trung tá Nguyễn Đức Phương không khỏi băn khoăn, hồi hộp. Sinh năm 1924 ở xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay là TP Hà Nội) trong một gia đình làm ruộng, chàng trai Đức Phương sớm tham gia hoạt động và được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Mặc dù mới học lớp 3, nhưng do hoạt bát, thông minh, to cao, lại là đảng viên, nên tháng 3/1946, anh được điều động vào quân đội làm Chính trị viên bộ đội thành Sơn Tây. Chín năm kháng chiến chống Pháp tôi luyện chàng nông dân hiền lành Đức Phương trở thành Phó Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 308. Sau năm 1954, anh hai lần được giao nhiệm vụ sang nước bạn Lào làm chuyên gia hậu cần cho bộ đội Pathét Lào với thời hạn 7 năm. Khó khăn, gian khổ anh không nản, chỉ sợ nhiệm vụ quá sức mình…
Vài hôm sau, khi đang nghỉ tại Trạm khách 66 Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Nguyễn Đức Phương và 30 anh em cùng chung nhiệm vụ. Sau khi hỏi thăm sức khỏe và gia đình từng người, Đại tướng giao nhiệm vụ: Đường Trường Sơn do Đoàn 559 đảm trách rất có hiệu quả trong việc chi viện sức người, sức của từ miền Bắc vào miền Nam, nhưng đang bị địch đánh phá dữ dội. Cần có thêm một tuyến đường nữa trợ giúp, bắt nguồn từ các tỉnh biên giới của nước bạn Lào và Campuchia giáp với vùng Tây Nguyên nước ta. Nhiệm vụ chính của Đoàn 763 do Trung tá Nguyễn Đức Phương làm Đoàn trưởng là tạo nguồn dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men càng nhiều càng tốt để cung cấp cho chiến trường miền Nam. Đoàn hoạt động độc lập, nhận nhiệm vụ trực tiếp từ Bộ Quốc phòng. Cuối cùng, Đại tướng căn dặn:
– Vào trong đó xa Trung ương, xa hậu phương, các đồng chí sẽ thiếu thốn đủ thứ. Các đồng chí cần đoàn kết, khéo làm ăn để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.
Nhận nhiệm vụ và 5 triệu kíp (tiền Lào, hồi đó là một số tiền rất lớn), một ngày cuối tháng 7/1963, Đoàn 763 lên đường. Trung tá Nguyễn Đức Phương không ngờ rằng, từ một anh nông dân, một cán bộ hậu cần, chỉ một thời gian sau anh trở thành “ông chủ lớn” nổi tiếng của cả vùng biên giới Việt – Lào – Campuchia.
Sau hai tháng dầm mưa, dãi nắng đi bộ dọc theo dải Trường Sơn, Đoàn 763 đã đến địa điểm đóng quân. Đó là khu rừng ven sông Sê Kông thuộc huyện Xamakhisay, tỉnh Attapeu (Lào), cách ngã ba Đông Dương khoảng 60km. Bên kia sông là đồn biên phòng Đôn Phầy của Campuchia. Đây là địa điểm rất thuận lợi cho đoàn trong thu mua và vận chuyển hàng hóa ở Lào và Campuchia, lúc bấy giờ còn trung lập,để chi viện cho chiến trường miền Nam và vùng Hạ Lào. Ban đầu, việc thu mua lương thực ở Lào thuận lợi, tuy nhiên ông Bun Mạc, Thường vụ Tỉnh ủy Attapeu phụ trách kinh tế băn khoăn:
– Xưa nay chưa bao giờ chúng tôi chủ trương thu mua lương thực. Thu mua rồi có thành lệ không? Sang năm, nếu nhân dân không ủng hộ mà cứ yêu cầu thu mua thì làm thế nào?
Nguyễn Đức Phương giải thích:
– Muốn thắng Mỹ, ta phải có lương thực, thực phẩm dự trữ nuôi quân. Không thu mua, các đồng chí và chúng tôi sẽ không có đủ gạo ăn để nuôi mình, nói gì đến nuôi quân. Không thu mua, nhân dân không có tiền mua sắm vải vóc, kim chỉ, thuốc men… Đoàn chúng tôi còn ở đây lâu dài, tôi bảo đảm thu mua chỉ có lợi, không có hại.
Tỉnh ủy chấp nhận ý kiến của Đức Phương. Bí thư Tỉnh ủy Thoong Đăm ký 40 giấy giới thiệu cho phép cán bộ, chiến sĩ Đại đội 6, lấy danh nghĩa Bộ đội Pathét Lào, được về các bản vùng Hạ Lào để thu mua lương thực. Cuối tháng 10/1963, Đoàn 763 điện về Bộ Quốc phòng: “Đã lập được 3 kho, bước đầu có 100 tấn lúa dự trữ”. Bộ trả lời: “Rất hoan nghênh. Chú ý khai thác thêm nguồn hàng mới trong lòng địch. Cần bao nhiêu tiền cứ báo cáo”.
Nhận chỉ thị, Nguyễn Đức Phương nhờ bạn xoay xở giấy tờ hợp pháp để cử người vào buôn bán ở Pắc-xế, một thị xã giàu có, nhiều hàng hóa của tỉnh Chăm-pa-sắc do Chính phủ Hoàng gia Lào thân Mỹ kiểm soát. Tại đây, nhờ sự khéo léo và tài trí của mình, các anh móc nối với Đại tá Khăm Lượm, Quân khu phó Quân khu 4 và vợ của y là em gái Hoàng thân Bun Ừm, nhân vật phái hữu có thế lực nhất vùng Hạ Lào. Biết là người của Pathét Lào, nhưng do hám tiền nên vợ chồng Khăm Lượm chấp nhận “làm ăn” với ta. Từ đó, lương thực do vợ chồng Khăm Lượm chuyên chở ùn ùn về kho dự trữ của Đoàn 763. Tuy nhiên, đề phòng địch vừa chở hàng vừa thăm dò lực lượng của ta, việc khơi nguồn hàng từ Pắc-xế tạm chấm dứt. Trung tá Nguyễn Đức Phương xin phép cấp trên được mở đường buôn bán sang Campuchia. Đầu năm 1964, Bộ Quốc phòng có điện trả lời: “Đồng ý. Thành lập một đơn vị mới gồm 20 đồng chí lấy phiên hiệu là K20, có nhiệm vụ khai thác nguồn hàng ở Campuchia. Tuyến đường chở hàng về lấy bí danh là đường C4″.

Phó tư lệnh Sư đoàn 470 Nguyễn Đức Phương (ngoài cùng bên phải) và 2 cán bộ cách mạng Lào: Sa Văn và Thoong Bay (ảnh chụp năm 1972 tại Nam Lào). Ảnh: Bảo tàng Tổng cục Hậu cần.
Tuyến đường bí mật
Trung tá Nguyễn Đức Phương tiếp tục là Đoàn trưởng Đoàn K20, phụ trách tuyến đường bí mật này. K20 thuộc quân số của Bình trạm 37, Đoàn 559 nhưng nhận nhiệm vụ trực tiếp từ Bộ Quốc phòng. Tuyến đường theo đề nghị của anh, bắt nguồn từ đồn Tà Ngâu, điểm cuối cùng của Binh trạm 37 (Đoàn 559) sang đồn biên phòng Đôn Phầy, đến huyện Siem Pang (đều thuộc tỉnh Stung Treng) xuống tận cảng Sihanoukville của Campuchia. Nhiệm vụ của K20 đường C4 là phải lập ra cơ sở buôn bán tại chỗ dưới danh nghĩa một công ty; mở được tài khoản ngay trong hệ thống tài chính của Campuchia để ta chuyển tiền vào; thu mua và chuyển hàng nghìn tấn gạo, hàng trăm tấn hàng đặc biệt và nhiều “khách quý” (cán bộ cao cấp của ta) đến nhiều hướng trên chiến trường.
Tuy Campuchia lúc bấy giờ còn là nước trung lập, Quốc trưởng Norodom Sihanouk ít nhiều có cảm tình với cách mạng Việt Nam, nhưng trong Chính phủ có nhiều phe phái, CIA Mỹ, tình báo chính quyền Sài Gòn nhan nhản luôn rình rập, dòm ngó nên mọi hoạt động của K20 phải tuyệt đối bí mật.
Nhận nhiệm vụ mới, Trung tá Nguyễn Đức Phương luôn băn khoăn, suy nghĩ. Đoàn K20 sẽ lấy danh nghĩa thương nhân Lào hay Việt Nam. Mặc dù từ chỗ đóng quân tại Lào cách đất Campuchia chỉ một dòng sông, nhưng sang đó khi chưa được chính quyền họ cho phép liệu có vi phạm luật lệ quốc tế hay không? Suy đi tính lại, anh cùng các đồng chí trong đoàn chọn điểm đột phá để làm bàn đạp vừa là nơi giao dịch, buôn bán, vừa là nơi tập kết hàng hóa. Đó là đồn biên phòng Đôn Phầy của Campuchia (nhưng một số cơ sở, trạm kho vẫn cắm ở Hạ Lào). Với tài ngoại giao của mình, Nguyễn Đức Phương và đồng đội của anh làm quen với vợ chồng Sum, đồn trưởng. Các anh tận dụng sự hám tiền của Sum, lôi kéo y “làm ăn” với ta, biến y thành môi giới, lôi kéo nguồn hàng từ khắp nơi về Đôn Phầy.
Từ chỗ hẻo lánh, bị cô lập vì không có đường bộ, sau một thời gian, ngày một nhiều ca nô buôn bán từ Phnôm Pênh chạy ngược lên Đôn Phầy. Hàng hóa ngày một nhiều, đòi hỏi một số tiền lớn để mua, đồng thời bản thân mình phải có một danh nghĩa để giao dịch với khách hàng, Nguyễn Đức Phương điện xin chỉ thị cấp trên. Cấp trên trả lời: “Được, lấy danh nghĩa Việt Kiều sinh sống tại Lào từ nhỏ, là thương nhân buôn bán cho Pathét Lào. Sẽ gửi tiền và bổ sung thêm ba cán bộ biết tiếng Trung Quốc và Campuchia. Sắp tới, sẽ có một đoàn các nhà tư sản Hoa kiều từ Phnôm Pênh lên K20 thảo luận việc buôn bán”. Từ đây, Trung tá Nguyễn Đức Phương bắt đầu vào vai “ông chủ lớn”…
- Ký ức về “nhiệm vụ đặc biệt” (Chuẩn úy, Y sĩ Trần Thục Oanh, vai em gái “ông chủ lớn”)
Mùa đông 1965, tôi là nữ quân y sĩ duy nhất hành quân cùng đoàn cán bộ Quân y của Bộ vượt Trường Sơn vào chi viện cho Mặt trận B3 Tây Nguyên. Sau gần 2 năm trong rừng sâu, vừa xây dựng lán trại cho bệnh viện mới vừa điều trị, chăm sóc thương bệnh binh cho quân giải phóng. Môi trường bom đạn khốc liệt, khí hậu khắc nghiệt của rừng thiêng không kém gì thời tôi là y tá tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ. Sự sống và cái chết không có ranh giới, nhiều khi cảm tưởng khó vượt qua…
Năm 1967, trên chiến trường miền Nam nói chung và Mặt trận Tây Nguyên nói riêng đang trong giai đoạn hết sức cam go, ác liệt. Quân giải phóng phải gồng mình chiến đấu trong khi lương thực, thuốc men, vũ khí dần cạn kiệt… Việc tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc cho Tây Nguyên trên đường mòn Trường Sơn bị Mỹ ngụy đánh phá, ngăn chặn khốc liệt. Đoàn 559 – Đường Hồ Chí Minh có một binh trạm luôn phải dốc hết sức lo cái ăn, thuốc chữa bệnh, vũ khí từ trong lòng địch ở Hạ Lào và Campuchia về cho B3 Tây Nguyên và B2 miền Đông Nam Bộ – Đó là Binh trạm 37 có mật danh “K20″.
Theo chỉ thị của Mặt trận B3 Tây Nguyên, cần một nữ quân y có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn tốt cho K20. Quân y Viện 211 – B3 đã quyết định giao nhiệm vụ cho tôi (chuẩn úy, y sĩ Trần Thục Oanh) biệt phái sang K20 hoạt động ở đơn vị ông Đức Phương với vai “em gái ông chủ lớn” (nhà tư sản Đức Phương). Sau này mọi người nói là “Tình báo hậu cần”. Tôi chỉ tự nhủ: Việc chọn người chứ tôi đâu chọn việc. Làm nhiệm vụ trong lòng địch theo đúng nghĩa, tôi không được đào tạo “vỏ bọc” ngụy trang. Bằng kiến thức chuyên môn Quân y sĩ, với sự chỉ đạo, hướng dẫn chỉ bảo của chỉ huy và kỹ năng kinh nghiệm sống, tôi đã nhập vai và làm tròn bổn phận người lính…
Đồng chí Đức Phương xây dựng “mạng lưới” khai thác các nguồn hàng thiết yếu cho Mặt trận B3 Tây Nguyên. Bình trạm K20 tương đương cấp tiểu đoàn, có Đảng bộ và các cơ quan chức năng: tham mưu, chính trị, hậu cần, thông tin cơ yếu, hệ thống kho, trung đội phòng không, cảnh vệ, đại đội vận tải xe thồ và ô tô; ca nô đường sông Sê Kông, ngoài ra còn có một bệnh xá ở Xen Kẹo cách đơn vị vài chục cây số. K20 có đồng chí Hà Kim Tiêu là y tá. Thời gian này bệnh xá tiếp nhận hàng trăm thương bệnh binh các đơn vị. K20 phải thu dung và có trách nhiệm điều trị nhưng bệnh xá không có y bác sĩ và thiếu thuốc men nên đã có gần 100 thương, bệnh binh chết vì sốt rét rừng.
Trên đất Hạ Lào, K20 phải phối hợp với Pathét Lào để móc nối lực lượng phái hữu Lào, sĩ quan chỉ huy các đồn biên phòng của Lào ở khu vực Tàven Oọc và bên Campuchia để thực hiện nhiệm vụ. Muốn thế, chúng tôi phải tạo “vỏ bọc”. Theo chỉ đạo của ông Đức Phương nhằm thiết lập đường dây thu mua, vận chuyển lương thực, thực phẩm, thuốc men, vũ khí về cho chiến trường B3 Tây Nguyên và B2 miền Đông Nam Bộ. Tôi đã nhiều lần đi thăm khám, cấp thuốc cho người thân là vợ con của chỉ huy địch và người dân Lào cũng như bên Campuchia. Một là để bài trừ mê tín dị đoan (ốm chỉ cúng ma nên chết nhiều). Hai là, dân vận gây uy tín “tiếng lành đồn xa” để họ nể phục, tạo điều kiện cho mình đi lại không bị hạch sách, khám xét gì.
Chỉ trong thời gian ngắn, tôi đã tạo được dư luận: “Ông chủ Đức Phương có cô docteur giỏi, tận tình, chu đáo, chữa bệnh nào cũng khỏi. Có tháng tôi thăm khám gần 100 lượt người. Ngoài ra tuần nào cũng phải đi cùng y tá Tiêu kiểm tra sức khỏe, cấp phát thuốc cho các đại đội thuộc binh trạm.
Qua mắt địch ở đồn Đôn Phầy. Tiếng lành đồn xa. Một hôm, vợ quan hai ở đồn Đôn Phầy ốm nặng, chính đồn này thường xuyên khám xét ca nô của ta qua lại rất gắt. Nhận lời cầu giúp của tên đồn trưởng, đồng chí Đức Phương lại giao tôi đi gấp cùng đồng chí Diệp phiên dịch. Chúng cho ca nô của đồn sang đón. Bên bờ sông, đội danh dự lính Campuchia khoảng 20 tên mặc đồng phục dàn hàng chào đón tôi, khi ca nô cập bến, hai hàng lính chắp tay lễ phép vái chào… Khi thăm khám xong, tôi kê đơn, cho thuốc và tư vấn y tá người Campuchia và gia đình bệnh nhân cách điều trị. Hai ngày sau tôi lại sang thăm khám, và 4 ngày sau vợ tên quan hai qua khỏi. Từ đó, việc vận chuyển hàng hóa của ta qua đồn và khu vực chúng kiểm soát không bị hạch sách nữa.
Ngoại giao tạo vỏ bọc. Trung tuần tháng 8/1967, nhiều lần tôi đi theo đồng chí Đức Phương ngoại giao kết hợp đi khám bệnh, kê và cấp thuốc cho vợ, người nhà một số sĩ quan ở các đồn, trạm. Kết quả khá tốt và để lại lòng tin cho họ. Vì vậy, khi vào vai “em gái ông chủ” đi mua thuốc ở hậu phương địch tại tỉnh Siem Pang luôn được an toàn. Nhiều sĩ quan đến các lãnh đạo địa phương, các nhà buôn ở Phnôm Pênh rất tín nhiệm. Nhiều dân buôn ở Campuchia đã về Hạ Lào giao dịch làm quen và xin được bán thuốc cho cô em gái ông chủ Đức Phương. Trong đó có tên quan ba, ta nghi nó là CIA cài vào, tay này thường đeo kính mắt đen mấy lần giáp mặt. Có lần hắn mò lên Hạ Lào giả móc nối bán thuốc cho ta và mời tôi lên Phnôm Pênh xem bóng đá quốc tế, tôi cảm ơn và từ chối khéo với lý do có nhiều bệnh nhân nên không thể, và hắn đã không làm gì được.
Một lần, người dân ở ven sông Campuchia sang bản Xen Kẹo gặp ông Huỳnh Tấn Đại (phó K20) khẩn khoản đề nghị cho tôi đến cứu vợ trở dạ mấy ngày không đẻ được, nguy cơ tử vong cả 2 mẹ con. Khi tới nơi tôi đã phát hiện người mẹ sốt rất cao do nhiễm độc thai đã chết lưu, nếu không khẩn trương loại bỏ thai nhi người mẹ sẽ tử vong ít giờ sau. Ca xử lý thành công cứu được người mẹ. Tiếng của docteur “em gái ông Đức Phương” lại càng được lan truyền. Việc đi lại của ta càng thêm thuận lợi.
Người nhà Trời. Một dịp, ông U Thay, một quan chức ở Phnôm Pênh lên yêu cầu cấp cứu cho người quen ở Hạ Lào. Nhìn thể trạng và thần sắc một ông lão khoảng hơn 60 tuổi, tôi trực tiếp khám kỹ và kết luận: “Xơ gan cổ trướng giai đoạn cuối”. Tôi cấp cho một số thuốc, và khuyên gia đình hãy chăm sóc cẩn thận cho bệnh nhân những ngày còn lại… Trước việc an ủi động viên của tôi, gia đình người bệnh van nài bác sĩ hãy cho biết “người thân họ còn sống bao lâu nữa. Tôi rất lo, nếu nói sai ngày là mất tín nhiệm ảnh hưởng đến quan hệ của ông Phương. Bình tĩnh, tự tin tôi lựa lời khuyên: “Nếu chăm sóc ăn uống tốt thì khoảng 20 ngày, nếu không thì được trên dưới 10 ngày”. Đúng 11 ngày sau họ mang một con gà to và một số quà tới cảm ơn bác sĩ như “người nhà trời”, bố họ đã chết sau 10 ngày.
Bị biệt kích phục, đã đánh trả và bắt sống biệt kích. Cuối tháng 8/1967, một lần tôi và đồng chí Tiêu đi kiểm tra sức khỏe các đại đội, đang băng qua khu rừng rậm, khi gần đến Đại đội 65, bất ngờ phát hiện tên biệt kích. Hắn nổ súng vào hai chúng tôi. Chúng tôi đã bình tĩnh bắn trả, tên biệt kích hoảng loạn bỏ chạy, chúng tôi vừa bắn vừa đuổi theo và đã bắt được một tên ngụy Lào về giao cho ông Đức Phương xử lý.
Vào hậu phương địch điều tra giá thuốc. Một dịp, đồng chí Đức Phương giao cùng đi với chỉ huy về tỉnh Stung Treng để giao dịch với tên quan tư – sếp Sum. Chúng đã mời thầy trò tôi vào trại lính xemduyệt binh và dự tiệc chiêu đãi nhân một sự kiện. Lấy lý do không uống được rượu, tôi xin phép đi dạo. Lợi dụng cơ hội tôi ra phố bắt liên lạc với cô Phalta (là cơ sở của ta) nhờ đưa đi các hiệu khảo sát các loại thuốc, so sánh giá cả giữa các tỉnh để lựa chọn phương án thu mua sao cho hiệu quả. Sau chuyến đi, chúng tôi đã thu mua được khá nhiều thuốc theo yêu cầu chiến trường và tiết kiệm được tài chính.
Áp tải vũ khí về chiến trường B2 miền Đông Nam Bộ. Tôi được tham gia áp tải hàng (chủ yếu là vũ khí) do ông Đức Phương móc nối mua từ kho của địch ở Phnôm Pênh về cảng Sihanoukville. Cùng đi có ông Huỳnh Bang là cơ sở cách mạng giả nhà buôn. Khi qua 3 trạm gác của Campuchia, ông Bang không được phép xuất hiện ở các trạm đang tới. Đó là đồn Đôn Phầy, đồn Strung Treng, đồn Siem Pang. Chúng đều gọi chủ hàng vào kiểm tra. Cả ba đồn tôi đều phải “trình diện” đưa giấy tờ với tư cách “em gái ông chủ”. Các đồn này chúng đều biết tiếng ông Đức Phương và “cô em gái” nên chỉ hỏi qua loa kèm mấy câu bông đùa rồi cho đi. Nhưng có trạm chúng leo lên ca nô ngó nghiêng (trong lúc ông Bang thì nằm im dưới đáy ca nô), lắm lúc cũng thót tim nếu lộ sẽ bị bắt ngay. Khi hàng tới cảng Sihanoukville để chuyển về B2 miền Đông Nam Bộ, tôi bàn giao cho cơ sở tiếp nhận rồi bí mật trở về K20. Gần một tháng sau, Bộ Tư lệnh B3 điện báo: vũ khí đã về tới địa điểm an toàn.
Đối phó với phái đoàn giám sát Liên hợp quốc. Một lần đoàn ca nô chở hàng trên sông chuẩn bị cập bến (ở Hạ Lào, nơi giấu quân). Bất ngờ có Phái bộ của Liên hiệp quốc kiểm tra. Lâu nay họ vẫn nghi có Việt cộng hoạt động trên sông Sê Kông… Qua cơ yếu, Hà Nội đã kịp báo đúng lúc đoàn ca nô đang chở hàng trên sông. Trên chỉ thị, nếu không đảm bảo an toàn thì phải cho đánh đắm toàn bộ số hàng xuống sông xóa dấu vết (gần 100 tấn hàng mua từ Campuchia). Toàn đơn vị như lửa đốt trong lòng. Nếu lộ thì vừa mất của, vừa lộ nơi giấu quân và dư luận quốc tế sẽ rùm beng. Trong thời khắc hiểm nguy, chỉ huy K20 quyết định chớp nhoáng, lệnh tất cả anh em mặc quần áo Pathét Lào và trang bị tiểu liên AK ra ứng viện… Nếu ca nô của đoàn kiểm tra lên cách 200 – 300m thì đồng loạt bắn trước mũi xuồng uy hiếp. Cứ nhưthế, anh em ta ba lần bắn xối xả xuống trước mũi ca nô của phái bộ Liên hợp quốc. Hoảng sợ, họ lui không dám tới kiểm tra. Gần 100 tấn gạo, nhu yếu phẩm và thuốc men đã an toàn và cấp tốc chuyển về cho Mặt trận B3 Tây Nguyên.
“Hối lộ” để mở đường vận chuyến trên đất địch. Ông Đức Phương cử tôi tham gia công tác đối ngoại, tôi có nhiệm vụ đem những gói quà tiếp cận làm quen và tặng cho cả 4 bà vợ của sếp Sum (quan cai quản địa bàn). Gần một tháng trời, hàng chục chuyến ngược xuôi, lúc một mình, khi cùng “ông chủ” đi “lo lót” để làm việc lớn. Chỉ huy K20 đã móc nối, thuyết phục được tất cả các quan huyện, các đồn ở Siem Pang để xin chúng ra quyết định làm đường bộ nhằm đưa ô tô của ta vận chuyển được nhanh và nhiều hàng hơn chuyển bằng ca nô trên sông. Đoạn đường từ Siem Pang đến Đôn Phầy dài gần 100km. Nhận thấy việc cấp phép làm đường sẽ mang tới một khoản lợi cho quan huyện: Vừa có tiền cưới cô vợ 5, lại có tiền nuôi bốn bà vợ, sếp Sum đã nhanh chóng cho ông Đức Phương mở đường. Bài toán kinh tế rất hiệu quả. Một đơn vị công binh của ta mặc đồ Pathét Lào đã được điều tới cấp tốc mở đường. Từ khi có đường bộ, hàng đoàn xe vận tải của ta với tư cách nhà buôn đã đưa hàng trăm tấn hàng hóa cung cấp cho B3 vừa nhanh vừa rẻ gấp nhiều lần từ miền Bắc vào cho chiến trường Tây Nguyên.
Chiến trường – “Thương trường trong lòng địch”. Ngoài việc móc nối mua hàng trăm tấn vũ khí, lương thực, thuốc men gom từ nhiều nơi trong lòng địch. K20 còn mang về hàng vạn lít xăng dầu cho chiến trường. Trong đó tôi cũng được cử tham gia giải quyết một số công việc cụ thể như ngoại giao dàn xếp thị trường, tìm cách cạnh tranh giá cả sao có lợi nhất, tổ chức vận chuyển… Số lượng ta móc nối mua của vợ và tay chân Hoàng thân Bun Ùm vùng Chăm-pa-sắc (Lào), mua từ hậu phương địch tại Campuchia về cho Mặt trận B3 Tây Nguyên và B2 miền Đông Nam Bộ là nhiều vạn tấn. Thực sự số hàng trên đã góp phần hỗ trợ rất lớn cho chiến trường, trong lúc tuyến đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh bị quá tải, và bị tổn thất rất lớn vì bom đạn Mỹ ngụy ngăn chặn…Nay tôi đã ngót 90 tuổi, viết lại những kỷ niệm khi làm nhiệm vụ ở K20, có những lúc tính mạng “ngàn cân treo sợi tóc” tưởng chừng không thể vượt qua. Nhưng bằng tài trí, mưu lược, sự thông tuệ của người anh cả K20 – “ông chủ lớn” Đại tá Nguyễn Đức Phương, và sự nỗ lực của từng cá nhân, chúng tôi đã vươn lên để hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử giao phó… Viết lại còn để tri ân, để tưởng nhớ những người đồng đội một thời chung chiến hào nay không còn nữa.
Trung tá, BS Trần Thục Oanh

