Từ thị trấn Khánh Yên (Văn Bàn) xuôi về xã Khánh Yên Hạ, chúng tôi ngược dốc đến Bản Sung, nơi có câu chuyện tình đẹp của người chiến sĩ tình nguyện Việt Nam với cô gái xứ sở Triệu Voi. Ông Vũ Viết Giàng cầm chiếc điếu cày, vân vê mẩu thuốc, rít một hơi thật dài. Thật khó hình dung được, lão nông đã bước qua cái tuổi 70 đang ngồi đối diện với tôi từng là một chiến sĩ vào sinh ra tử trên khắp chiến trường Nam Lào. Nghe chúng tôi hỏi lại chuyện ông phải bán một con trâu to mới đủ tiền về thăm quê ngoại, ông cười lớn, giọng tếu táo: “Thì lâu lâu mới đi một lần mà chú!”. Đó cũng là lần đầu tiên ông trở lại Lào sau ngày giải phóng, về thăm quê ngoại, thăm lại chiến trường xưa đầy ắp kỷ niệm.
Trong căn nhà sàn nhỏ, ông dành một góc riêng để lưu giữ những kỷ vật từ thời chiến, nhìn những tấm huân chương, huy hiệu đủ loại trong tủ, tôi biết ở ông có cả một bảng thành tích dày về những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Lào. Tháng 5/1965, Vũ Viết Giàng trở thành người lính trong Binh đoàn Trường Sơn. 13 năm sống và chiến đấu ở Lào, ông cũng chẳng nhớ được hết những trận đánh mà mình tham gia, từ thành cổ Quảng Trị, Đà Nẵng, ngã ba Kon Tum đến Atôpư, Xaravan… chiến trường Nam Lào ông đều đặt chân đến cả.
Năm 1968, ông nhận nhiệm vụ cố vấn quân sự, xây dựng cơ sở, hỗ trợ bộ đội Pa Thét Lào về chiến thuật và tổ chức trận đánh ở tỉnh Khăm Muộn. Nhiệm vụ chính của ông lúc này là xây dựng cơ sở, “ba cùng” với nhân dân Lào, hướng dẫn cho người dân phát triển sản xuất, xây dựng tình cảm gắn bó giữa quân tình nguyện Việt Nam với quân và dân Lào. Cũng từ đây đã mở đầu cho câu chuyện tình đẹp “như trong phim” của người chiến sĩ Việt Nam với cô thiếu nữ Lào. Cô gái Hoàng Thị Bông, con gái của Phó bí thư Tỉnh ủy Khăm Muộn sau nhiều lần theo cha đến nơi đóng quân của bộ đội Pa Thét đã cảm mến chàng trai Vũ Viết Giàng từ lúc nào không hay. Ông kể: “Thỉnh thoảng bà ấy gói phong lương khô, điều thuốc nhét vào túi áo, lúc đầu cũng không để ý lắm, dần dần mến nhau rồi thì lúc nào cũng muốn gặp mặt. Cùng sống, chiến đấu với bộ đội và nhân dân Lào, cùng sống chết với họ, lúc ấy đâu có nghĩ đang là công dân của hai nước”. Một năm sau, với sự cho phép của chính phủ hai nước, đám cưới giản dị được tổ chức theo đúng kiểu đám cưới thời chiến. Ba người con được sinh ra ở Khăm Muộn mang hai dòng máu Việt – Lào như một cái kết có hậu cho mối tình đẹp này.
Năm 1975, đất nước thống nhất, ông được phép đưa vợ con từ Lào về quê hương Văn Bàn. Hàng chục năm qua, trong căn nhà nhỏ của ông luôn tràn ngập tiếng cười, các con đều đã trưởng thành, mối tình của ông bà như thêm vào một trang nữa trong những câu chuyện đẹp về tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào.
Tác giả: Mạnh Dũng



