Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của khát vọng độc lập, tự do và vươn lên không ngừng từ gian khó. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã hun đúc nên bản lĩnh kiên cường, tinh thần đoàn kết và ý chí tự cường mạnh mẽ.
Bước ra từ hai cuộc kháng chiến trường kỳ, dù phải gánh chịu những tổn thất hết sức nặng nề do chiến tranh để lại, Việt Nam vẫn không ngừng đứng dậy, hồi sinh và phát triển. Từ tro tàn của đổ nát, từ những năm tháng thiếu thốn trăm bề, dân tộc ta đã từng bước khẳng định trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên, tạo nên nền tảng vững chắc để đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới và tiếp đó là một giai đoạn phát triển mới với tầm vóc cao hơn, sâu sắc hơn – giai đoạn vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.
Gần 40 năm Đổi mới là chặng đường lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển, trong cách tổ chức nền kinh tế và quản trị xã hội. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kém hiệu quả, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập vào dòng chảy kinh tế toàn cầu. Những cải cách mạnh mẽ về thể chế, về môi trường đầu tư – kinh doanh, về tổ chức sản xuất và phân bổ nguồn lực đã giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng to lớn trong xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức cao trong nhiều năm liên tục, giúp Việt Nam từ nhóm các nước nghèo vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong khu vực và trên thế giới.
Cùng với tăng trưởng kinh tế là sự chuyển biến sâu sắc về diện mạo đất nước. Hạ tầng giao thông, đô thị, năng lượng, viễn thông không ngừng được đầu tư, mở rộng và hiện đại hóa. Những tuyến đường cao tốc, cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, khu đô thị mới mọc lên trên khắp mọi miền Tổ quốc, tạo động lực mới cho phát triển. Từ vùng đồng bằng đến miền núi, biên giới và hải đảo, nông thôn đổi mới từng ngày, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền từng bước được thu hẹp. Diện mạo đất nước hôm nay là minh chứng sinh động cho sức sống mạnh mẽ của công cuộc Đổi mới và cho khát vọng không ngừng vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Sự phát triển của Việt Nam trong gần bốn thập niên qua không chỉ được đo bằng những con số tăng trưởng, mà còn được khẳng định bằng những thành tựu to lớn về an sinh xã hội và phát triển con người. Hàng chục triệu người đã thoát nghèo, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, người dân ngày càng được thụ hưởng nhiều hơn các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin. Hệ thống an sinh xã hội từng bước được hoàn thiện, bao phủ ngày càng rộng, góp phần bảo đảm ổn định xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân vào con đường phát triển của đất nước. Triết lý phát triển vì con người, đặt con người ở vị trí trung tâm đã trở thành nền tảng xuyên suốt trong mọi chủ trương, chính sách lớn, làm nên chiều sâu nhân văn trong mô hình phát triển của Việt Nam.
Song hành với sự lớn mạnh về nội lực là sự thay đổi mạnh mẽ về vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã từng bước mở cửa, hội nhập và trở thành đối tác tin cậy của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, chiều sâu hợp tác ngày càng được nâng cao, từ song phương đến đa phương, từ khu vực đến toàn cầu. Uy tín và tiếng nói của Việt Nam trong các vấn đề quốc tế ngày càng được coi trọng. Hình ảnh một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự chủ, sẵn sàng hợp tác vì lợi ích chung và phát triển bền vững của thế giới ngày càng được khẳng định rõ ràng.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra một không gian phát triển rộng lớn chưa từng có cho đất nước. Thông qua việc tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam đã kết nối chặt chẽ hơn với các trung tâm kinh tế lớn của thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư nước ngoài. Hội nhập không chỉ mang lại cơ hội về tăng trưởng thương mại và đầu tư, mà còn thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cải cách thể chế, nâng cao năng lực quản trị, trình độ công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam từng bước khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn trong chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà là tăng trưởng bền vững, chất lượng cao, dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. “Kỷ nguyên vươn mình” đòi hỏi đất nước phải bứt phá toàn diện về năng lực cạnh tranh, về hiệu quả sử dụng nguồn lực, về trình độ quản trị quốc gia và về khả năng thích ứng với những biến động nhanh chóng của thế giới. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp mới, chuyển đổi số không chỉ là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển, tạo ra những động lực tăng trưởng mới.
Cùng với chuyển đổi số là định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng bền vững. Những thách thức toàn cầu về biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi mô hình phát triển theo hướng hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 thể hiện rõ trách nhiệm của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng mở ra cơ hội lớn để tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, hiệu quả hơn.
Một trong những nền tảng quan trọng nhất của kỷ nguyên vươn mình là xây dựng và phát huy sức mạnh con người Việt Nam. Con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới có tri thức, có bản lĩnh, có khát vọng, có năng lực hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố quyết định thành công lâu dài của đất nước. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là sức mạnh nội sinh, là nguồn lực mềm quan trọng trong tiến trình phát triển và hội nhập.
Trong bức tranh tổng thể ấy, quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố vững chắc, tạo nền tảng ổn định cho phát triển. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc. Sức mạnh quốc phòng – an ninh được xây dựng đồng bộ, gắn liền với thế trận lòng dân, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển. Đây là yếu tố có ý nghĩa sống còn để kỷ nguyên vươn mình của dân tộc diễn ra trong hòa bình, bền vững và chủ động.
Kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam không phải là sự phát triển một chiều, mà là sự vận động tổng hòa của nhiều yếu tố: nội lực dân tộc, sức mạnh thời đại, khát vọng vươn lên của toàn xã hội và tầm nhìn chiến lược dài hạn. Những mục tiêu đến năm 2030 và 2045 không chỉ là các mốc thời gian, mà là những cột mốc khát vọng thể hiện ý chí đưa đất nước tiến lên một tầm cao mới, sánh vai với các quốc gia phát triển. Con đường phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng cũng mở ra những thời cơ lớn chưa từng có.
Điều làm nên sức mạnh bền bỉ của dân tộc Việt Nam chính là tinh thần đại đoàn kết toàn dân. Trong suốt chiều dài lịch sử, mỗi khi đất nước đứng trước bước ngoặt lớn, tinh thần đoàn kết lại được khơi dậy mạnh mẽ, trở thành nguồn sức mạnh vô song giúp dân tộc vượt qua mọi thử thách. Trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay, tinh thần ấy tiếp tục được khẳng định, trở thành sợi dây gắn kết mọi tầng lớp Nhân dân, mọi vùng miền, mọi thành phần xã hội trong một khát vọng chung: xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam không chỉ là một tầm nhìn chiến lược, mà đang hiện hữu sinh động trong từng công trình, từng nhà máy, từng cánh đồng, từng lớp học, từng vùng quê đang đổi mới từng ngày. Đó là hơi thở của thời đại mới, là nhịp bước đi lên của cả dân tộc trong hành trình hướng tới tương lai. Với nền tảng đã được hun đúc vững chắc từ lịch sử, với thành tựu to lớn của gần 40 năm Đổi mới, với khát vọng cháy bỏng về một đất nước hùng cường, thịnh vượng, Việt Nam hoàn toàn có đủ cơ sở để tin tưởng vững chắc rằng kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sẽ tiếp tục được viết nên bằng những trang sử mới rực rỡ, vẻ vang và bền vững.
Tổng hợp





