Nhân kỷ niệm 49 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Lào – Việt Nam (18/7/1977 – 18/7/2026), Thông tấn xã Lào (KPL) đăng bài viết ôn lại chặng đường lịch sử và những dấu mốc làm nên mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.
Quan hệ Lào – Việt Nam có lịch sử lâu đời, được vun đắp qua nhiều thế kỷ cùng chia sẻ khó khăn, giúp đỡ lẫn nhau. Hai nước có chung đường biên giới dài hơn 2.000 km, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn và chia sẻ nhiều dòng sông. Sự gần gũi về địa lý đã tạo nên những gắn kết sâu sắc về kinh tế, văn hóa và đời sống giữa nhân dân hai nước.
Từ nhiều đời nay, người dân Lào và Việt Nam thường xuyên qua lại, trao đổi hàng hóa, giao lưu văn hóa và hỗ trợ nhau trong cuộc sống. Nhiều cộng đồng dọc biên giới có quan hệ họ hàng, thân tộc. Nhân dân hai nước còn cùng chung khát vọng về độc lập, hòa bình và phát triển. Mối quan hệ gắn bó ấy được tôi luyện trong các cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong là những người đặt nền móng, mở đường cho quan hệ đặc biệt Lào – Việt Nam, để lại di sản quý báu cho hai dân tộc.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa thực dân cũ xâm lược ba nước Đông Dương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân Lào và Việt Nam đã cùng đứng lên đấu tranh chống kẻ thù chung. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945. Tại Lào, ngày 12/10/1945, Chính phủ Lào Issara tuyên bố nền độc lập của đất nước.
Khi thực dân Pháp trở lại Đông Dương năm 1946, lực lượng cách mạng hai nước tiếp tục kề vai sát cánh, cùng chiến đấu trong một chiến hào. Giữa những năm tháng gian khổ, tinh thần “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” trở thành biểu tượng của tình đoàn kết, sẻ chia giữa nhân dân Lào và Việt Nam.
Năm 1951, Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định để Lào và Campuchia thành lập chính đảng riêng, trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng tại mỗi nước. Trong Đông Xuân 1953-1954, lực lượng Lào mở nhiều mặt trận trên đất Lào nhằm phân tán lực lượng, cắt đứt các tuyến chi viện của quân Pháp, phối hợp với bộ đội Việt Nam trên chiến trường Điện Biên Phủ. Thất bại nặng nề buộc thực dân Pháp phải ký các văn kiện của Hội nghị Genève, công nhận độc lập và chủ quyền của ba nước Đông Dương.
Từ năm 1955, chủ nghĩa thực dân mới đẩy mạnh can thiệp vào ba nước Đông Dương, đặt Lào và Việt Nam trước một kẻ thù chung. Ngày 22/3/1955, Đảng Nhân dân Lào được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội và nhân dân Lào đã chiến đấu, giành thắng lợi trên nhiều chiến trường trong cả nước.
Tình đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam được củng cố sâu sắc qua cuộc gặp năm 1960 giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kaysone Phomvihane. Hai nhà lãnh đạo khẳng định quan hệ Lào – Việt Nam là mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, bắt nguồn từ truyền thống gắn bó, giúp đỡ và hợp tác lâu đời giữa nhân dân hai nước.
Năm 1962, khi Chính phủ liên hiệp ba phái của Lào được thành lập, quan hệ giữa hai nước được xác lập chính thức ở cấp nhà nước. Ngày 5/9/1962, Lào và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao.
Ngày 13/3/1963, tại sân bay Gia Lâm, trong lễ tiễn Vua Lào Sisavang Vatthana và đoàn đại biểu Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc những câu thơ thể hiện sâu sắc tình cảm giữa hai dân tộc:
“Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt – Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.
Chủ tịch Kaysone Phomvihane cũng từng khẳng định: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào – Việt Nam mãi mãi bền vững hơn núi, hơn sông”. Từ đó, tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam ngày càng được bồi đắp, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước.
Từ giữa thập niên 1960, đặc biệt trong giai đoạn 1967-1973, quân và dân hai nước liên minh chiến đấu chống chiến tranh đặc biệt và chiến tranh đặc biệt tăng cường của các thế lực đế quốc và lực lượng tay sai. Sự phối hợp ấy được thể hiện tại nhiều chiến trường và chiến dịch như Cù Kiệt, Thà Nọng Kiệt, Phu Cút, Xâm-xỏn, Xỏn-xay và Lam Sơn 719.
Trong những năm tháng ấy, phía Lào cũng tạo điều kiện để Việt Nam phát huy sức mạnh của cuộc đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước, nổi bật là việc mở tuyến đường Hồ Chí Minh qua lãnh thổ Lào. Tuyến đường trở thành biểu tượng của liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam, góp phần quan trọng vào thắng lợi lịch sử của hai dân tộc.
Tháng 1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Ngày 30/4/1975, Việt Nam giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Tại Lào, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vận dụng ba đòn chiến lược, lãnh đạo nhân dân giành chính quyền trên phạm vi cả nước ngày 23/8/1975. Ngày 2/12/1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập, đưa quan hệ Lào – Việt Nam bước vào thời kỳ hợp tác toàn diện.
Sau thắng lợi năm 1975, quan hệ Lào – Việt Nam bước vào thời kỳ hợp tác toàn diện trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngày 18/7/1977, Thủ tướng Lào Kaysone Phomvihane và Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Lào – Việt Nam, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ mới.
Theo KPL, những chặng đường lịch sử trên cho thấy tình hữu nghị vĩ đại và đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam không phải ngẫu nhiên mà có. Mối quan hệ ấy đã trải qua những thử thách khắc nghiệt nhất trong ngọn lửa chiến tranh, được xây đắp bằng máu, nước mắt, sự hy sinh và tình cảm đồng chí, anh em sâu nặng giữa nhân dân hai nước.
Tổng hợp





