Trong 5 năm qua, Chính phủ Lào đã tập trung triển khai nhiều biện pháp nhằm phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trọng tâm là khuyến khích sản xuất và dịch vụ phát triển ổn định, liên tục. Các giải pháp chủ yếu gồm mở cửa đất nước trở lại sau đại dịch Covid-19; thúc đẩy sản xuất thay thế nhập khẩu gắn với xuất khẩu; mở rộng tín dụng phục vụ phục hồi kinh tế; triển khai các chương trình thí điểm về khoáng sản; đẩy mạnh phát triển du lịch; cải thiện dịch vụ vận tải trong nước và quốc tế, qua đó tạo động lực duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế.
Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, ngày 6/1/2026, Thủ tướng Chính phủ Lào Sonexay Siphandone cho biết: thông qua việc triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm vừa qua, Chính phủ đã tập trung tổ chức thực hiện đồng bộ các biện pháp điều hành, giúp kinh tế tiếp tục tăng trưởng. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 4,24%, vượt mục tiêu đề ra từ 4% trở lên. GDP bình quân đầu người đạt 2.138 USD (kế hoạch 2.880 USD); GNI bình quân đầu người đạt 1.985 USD (kế hoạch 2.280 USD).
Xét theo cơ cấu kinh tế, khu vực nông nghiệp tăng trưởng bình quân 2,9%, chiếm 19,4% GDP (kế hoạch tăng 2,5%, chiếm 15,3%); khu vực công nghiệp tăng 4,7%, chiếm 32,5% GDP (kế hoạch tăng 4,1%, chiếm 32,3%); khu vực dịch vụ tăng 4,5%, chiếm 36,6% GDP (kế hoạch tăng 6%, chiếm 41,3%); khu vực thuế sản phẩm tăng 3,8%, chiếm 11,5% GDP (kế hoạch tăng 5,8%, chiếm 11,7%).
Hoạt động sản xuất và dịch vụ đạt nhiều kết quả tích cực, nổi bật là sản lượng lúa đạt 18,9 triệu tấn, bình quân 3,7 triệu tấn/năm (kế hoạch 3,5–4 triệu tấn/năm); sản lượng cây trồng hàng hóa đạt 9,5 triệu tấn/năm (kế hoạch 7,4 triệu tấn/năm). Sản xuất lương thực, thịt, trứng và thủy sản cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước. Kim ngạch xuất khẩu nông – lâm sản đạt 7,8 tỷ USD, bình quân 1,5 tỷ USD/năm, vượt kế hoạch 31,49% (kế hoạch 1,2 tỷ USD).
Giá trị sản xuất điện đạt 262.848,19 tỷ kip, bằng 186,58% kế hoạch (140.879,6 tỷ kip), tăng bình quân 26,96%/năm; giá trị sản xuất khoáng sản đạt 179.755,35 tỷ kip, bằng 320,36% kế hoạch (56.111 tỷ kip), tăng bình quân 39,26%/năm. Giá trị lưu thông hàng hóa đạt 410.269,82 tỷ kip, bằng 96,71% kế hoạch, tăng bình quân 9,97%/năm; khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 60,32 triệu tấn, tăng bình quân 19,26%/năm; vận chuyển hành khách đạt 484,7 triệu lượt người, tăng bình quân 6,15%/năm.
Về thương mại đối ngoại, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 84,4 tỷ USD, bằng 119% kế hoạch. Trong đó, xuất khẩu đạt 46,4 tỷ USD (122% kế hoạch), tăng bình quân 15,19%/năm; nhập khẩu đạt 37,9 tỷ USD (115% kế hoạch), tăng bình quân 13,45%/năm; cán cân thương mại thặng dư 8,4 tỷ USD.
Về đầu tư, tổng vốn huy động đạt 387.372 tỷ kip, bằng 189% kế hoạch. Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách trong nước đạt 22.080 tỷ kip (96% kế hoạch); vốn ODA đạt 54.493 tỷ kip (146% kế hoạch); vốn đầu tư của khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài đạt 266.494 tỷ kip (266% kế hoạch); các nguồn vốn khác, bao gồm đóng góp của cộng đồng và xã hội, đạt 44.305 tỷ kip, hoàn thành 100% kế hoạch đề ra.
Tổng hợp




