Tỷ lệ tiêu thụ động vật hoang dã ở Lào được đánh giá là khá cao. Theo số liệu thống kê của Trung tâm nghiên cứu LOMWRU, 32,6% người mua không biết về những rủi ro sẽ gặp phải, đây sẽ là thách thức trong việc phòng ngừa lây lan dịch bệnh từ động vật tới con người.
Theo một nghiên cứu mới đây của One Health tại Trung tâm Nghiên cứu dịch bệnh LOMWRU & Khoa Vi sinh của Bệnh viện Moho Soh do Tiến sĩ Maiphong Maysai trình bày mới đây, có thông tin khảo sát được cung cấp ở 3 thị trường lớn là: Xiengkhouang, Borikhamxay và Saravan, tất cả người bán hàng đều là nữ trong độ tuổi từ 25 – 65, trong đó chỉ có 40% người bán hàng có cửa hàng cố định và thương lái mua trực tiếp từ thợ săn 49%, các nguồn phân phối khác 11% hoặc thương lái trung gian 34%. Hầu hết thương lái là nông dân chiếm 74% và 17% khác là thương lái bán sản phẩm khác trước khi chuyển sang bán động vật hoang dã.
Từ một số cuộc phỏng vấn khách hàng, người mua động vật hoang dã có trình độ học vấn từ tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông bao gồm 3 ngành nghề chính là thương nhân, người làm vườn và công chức, 54% người mua có thu nhập từ 100 – 350 USD/tháng, 41% người được phỏng vấn ăn động vật hoang dã trung bình 5 ngày/năm và 61% người được phỏng vấn chỉ mua động vật đã chết, phần còn lại mua cả động vật sống và chết.
Lý do chính mua động vật hoang dã: 95% người mua dùng để chế biến làm thực phẩm, chỉ một phần nhỏ khoảng 3% dùng để làm thuốc, vì 46% người mua cho rằng ăn thịt động vật hoang dã sẽ tốt cho sức khỏe hơn các loại động vật khác và 44,8% người mua thích nó chỉ vì hương vị của thịt động vật hoang dã. Khảo sát cũng cho biết 74% người mua sẽ ngừng ăn động vật hoang dã nếu biết rằng loài động vật này sắp bị tuyệt chủng, 71,5% người mua sẽ không ăn động vật hoang dã nữa khi biết ăn thịt động vật hoang dã có thể gây bệnh và 92,5% người mua sẽ ngừng mua động vật hoang dã để ăn khi biết sẽ bị lực lượng công an xử phạt.
Khi được hỏi về những rủi ro sẽ xảy ra với sức khỏe của người ăn thịt động vật hoang dã, 28,1% người mua được phỏng vấn cho rằng có rủi ro cao, trong khi 22,5% người mua cho rằng có rủi ro thấp, 16,9% người mua cho rằng không có rủi ro gì và 32,6% người mua không biết rủi ro là gì; ngoài ra, nam giới có nhận thức về rủi ro thấp hơn nữ giới; 36,3% số người được phỏng vấn cho biết họ đã tính đến nguy cơ mắc bệnh từ động vật hoang dã lây sang người; 35,2% số người được phỏng vấn cho rằng động vật hoang dã bán ở chợ có thể lây bệnh.
Từ nghiên cứu bằng cách thu thập các mẫu động vật hoang dã được bán ở chợ hoặc bị cơ quan chức năng thu giữ và đưa về phòng thí nghiệm phân tích, có thể thu thập được 359 mẫu động vật hoang dã với 32 loài từ động vật chết và chưa chết bằng kỹ thuật polymerase phản ứng dây chuyền (PCR) bằng phương pháp PCR thông thường và real-time phát hiện và kiểm soát bệnh cụ thể thông qua phân tích cho thấy loài sóc Sciuridae chiếm 73,0% trong tổng số 16 loài sóc được tìm thấy thường xuyên là loài sóc Pallas (Callosciurus erythraeus) chiếm 20,3% mắc các bệnh có thể lây truyền sang người.
Loại vi-rút nào có trong động vật được đưa ra bán, theo phương pháp khoa học, sử dụng kỹ thuật giải trình tự gen mục tiêu và siêu gen, kiểm tra từ mẫu động vật, phân lập gen của vi-rút từ mẫu động vật, tìm ra vi trùng phát hiện: vi-rút Corona, Virus cúm, Paramyxovirus, Lyssavirus sử dụng trình tự giải mã MinIon là những loại virus thường gặp ở động vật.
Để phòng ngừa lây truyền bệnh từ động vật hoang dã sang người, khuyến cáo người dân không chạm vào và tiêu thụ các loại động vật, việc này ngoài việc phòng bệnh từ động vật hoang dã sang người còn góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, tạo sự cân bằng cho môi trường và hệ sinh thái ở Lào.
Tổng hợp





