Tháng 2/1971, Đường 9 – Nam Lào vốn là hậu phương của ta. Khi địch bắt đầu cuộc hành quân Lam Sơn 719, theo chủ trương của trên, nhân dân trong vùng và các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật Đoàn 559 đều sơ tán lùi về phía sau. Vì rút vội, trong các bản làng còn bỏ lại nhiều trâu, bò, lợn, gà thả rông. Nhiều cơ sở hậu cần của Đoàn 559 còn ngổn ngang lương thực, thực phẩm: Gạo, lương khô, thịt hộp, đường, sữa, bột trứng, mì chính,…
Đơn vị Đại đội 20 đặc công, Trung đoàn 3, Sư đoàn chúng tôi vừa hành quân từ miền tây Thừa Thiên ra, vốn từ lâu thiếu thốn mọi thứ. Chỉ huy cấp dưới đề nghị tôi cho anh em dùng những thứ mà đồng bào và các đơn vị bỏ lại.
Mọi người lập luận rằng, những thứ đó rồi cũng sẽ mất hết thôi. Hoặc là, bị bom đạn tàn phá. Hoặc là, khi mình rút đi, quân ngụy đến đây sẽ vơ vét hết. Chỉ bằng cho bộ đội ăn, chẳng phương hại gì mà còn góp phần bồi dưỡng sức khỏe để chiến đấu.
Nghe ra có lý, tôi đồng ý cho phép các mũi (trung đội), tổ (tiểu đội) được mổ lợn, gà ăn thịt tại chỗ và được lấy thịt hộp, lương khô, đường, sữa mang theo khi hành quân chiến đấu.Nào ngờ, không biết có ai đó trong các bộ phận tăng cường phối hợp (Điện đài 15W, Trinh sát,…) đã kịp khoe giống như một sự phản ánh: “Đi chiến đấu với đại đội đặc công, ông Đẩu thoáng lắm, cho ăn uống thoải mái”. Vậy là, Thủ trưởng trung đoàn biết hết mọi việc.
Hôm tôi về dự họp Đảng ủy Tham – Chính (tức là Đảng ủy bao gồm: Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Đại đội Đặc công & Đại đội Trinh sát của Trung đoàn; tôi là Đảng ủy viên) để sơ kết đợt 1 của chiến dịch, anh Trần Đình Vàng, Phó Chính ủy Trung đoàn, Bí thư Đảng ủy, yêu cầu phải kiểm điểm tôi về việc đã mắc khuyết điểm tự động cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị sử dụng lương thực, thực phẩm,… của dân và của Đoàn 559 bỏ lại.
Anh Vàng và một vài anh đảng ủy viên phát biểu tỏ ra lập luận chặt chẽ, thái độ và lý lẽ gay gắt. Họ nâng lên “quan điểm”, “lập trường” và qui kết rằng: Trong chiến đấu, tôi đã tùy tiện vô kỷ luật để đơn vị vi phạm chính sách dân vận – một chính sách lớn của Đảng, của quân đội; đồng thời tự động lấy lương thực, thực phẩm trong kho dự trữ chiến lược của Đoàn 559.
Nghe phân tích mãi, ù cả tai, nóng cả mặt, không kìm nén được cảm xúc, tôi to tiếng xẵng giọng cãi bướng:
– Ừ thì, bây giờ ngồi đây, các đồng chí tiếc mấy con gà, con lợn bỏ hoang và mấy trăm cân đường sữa, lương khô, thịt hộp vương vãi do đơn vị bạn vứt lại, rồi qui kết nọ kia. Các đồng chí có biết rằng, ở dưới đơn vị, cơ động chiến đấu liên tục, anh em thiếu đói, ốm yếu thế nào không? Lãnh đạo cấp nào thì bao giờ cũng phải quan tâm đến đời sống của anh em chứ! Hôm nay, tôi còn sống về đây, các đồng chí đè ra kiểm điểm. Chứ hôm qua, tôi chết rồi thì kiểm điểm ai? Kiểm điểm cái nỗi gì?
Tôi vừa dứt lời, anh Trần Đình Vàng trừng mắt, mặt đỏ bừng bừng, nói như quát lên, giọng Quảng Ngãi nghe quyết liệt, chát chúa, gay gắt:
– A! đồng chí Đầu dám nói thế à? Đồng chí cậy vừa qua chỉ huy đánh thắng được một số trận thì kiêu binh hử? Quân đội ta khenthưởng, kỷ luật nghiêm minh. Chúng tôi biết chứ. Đồng chí chỉ huy chiến đấu giỏi, dũng cảm thì tùy theo thành tích để đề nghị cấp trên khen thưởng xứng đáng huân chương các loại, kể cả việc có thể tuyên dương là anh hùng đi nữa. Nhưng, không vì thế mà buông tha khuyết điểm. Vi phạm chính sách, thì phải thi hành kỷ luật thật nghiêm để làm gương. Bất kể là ai đi nữa!
Tự biết mình sai, nhưng tôi phát hiện ra trong lời phát biểu của anh Vàng có một chỗ hớ, có thể lách được. Tôi giơ tay đứng dậy, từ tốn phát biểu:
– Kính thưa đồng chí Bí thư Đảng ủy, kính thưa các đồng chí! Tôi nhất trí ý kiến của đồng chí Bí thư Đảng ủy. Có công thì thưởng. Có tội thì phạt. Nhưng thưởng hay phạt đều phải công minh, chính xác, kịp thời và dứt khoát phải thực hiện đúng nguyên tắc, qui trình, thủ tục. Có như thế mới có tác dụng giáo dục sâu sắc. Bởi thế, tôi đề nghị: Trước khi kỷ luật tôi, Đảng ủy cần cho người xuống xác minh để có kết luận chính xác, cụ thể.
Tôi nói xong, mọi người nhất trí.
Hôm sau thủ trưởng trung đoàn cho mấy anh cán bộ trong Ban Chính trị xuống điều tra, xác minh. Khi gặp gỡ tiếp xúc với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, mọi người đều nói rằng: Đúng là có việc đó thật. Nhưng đây là do anh em đói quá, tự phát, tự động làm. Thủ trưởng đại đội không hề có chủ trương và cũng không biết việc làm của cấp dưới.
Thế là mấy ngày sau, trung đoàn có quyết định kỷ luật khiến trách Ban chỉ huy Đại đội 20 Đặc công vì đã để cho đơn vị vi phạm chính sách. Như vậy là kỷ luật tập thể. Vì thế, trong lý lịch cán bộ của từng chúng tôi, chẳng ai ghi điều này.
28 năm sau, năm 1999, trong lần tôi vào công tác ở Nha Trang, tìm đến nhà thăm anh Trần Đình Vàng. Anh nghẹn ngào ôm ghì chặt tôi vào người, cà bộ râu lốm đốm bạc lên trán tôi, nói:
– Trời đất ơi! Chu cha thằng Đầu! Mày lên cấp Tướng rồi đây ư!Rồi anh quay sang nói với cả gia đình và mấy người cùng đi:
– Thằng này quê Nghi Lộc, Nghệ An, dân “cá gỗ” chính hãng đấy. Hồi ở rừng, tôi vẫn nhận nó là đồng hương kết nghĩa An – Ngãi. Mọi người biết không, hắn trưởng thành thế này là phải. Chiến đấu được lắm. Nói được, làm được. Mưu trí, dũng cảm, nhanh nhẹn lại sôi nổi hăng hái nữa. Nhưng hắn cũng ngang bướng lắm, hay cãi cấp trên. Là chính trị viên mà có lần hắn lao vào đánh thằng Chúng – Đại đội trưởng đấy. Hắn như thế, mà ở đơn vị ngày đó ai cũng quí hắn.
Nói rồi, anh bắt tôi đứng ra giữa nhà, vạch áo lên cho mọi người xem vết thương. Anh vừa chỉ vào vết thương vừa nói giọng nghèn nghẹn, đượm buồn:
– Đây này, thấy không, hắn bị thương nặng thế này. Hồi đó, cả đơn vị, ai cũng nghĩ rằng, hắn sẽ không thể qua được.
Tôi chăm chú lắng nghe anh Vàng nói, lòng rưng rưng bùi ngùi, nước mắt cứ thế trào ra mà chẳng nói thêm được điều gì.
Anh Trần Đình Vàng sinh năm 1927 quê ở Đức Phổ (Quảng Ngãi). Kết thúc chiến tranh chống Mỹ, anh là Chính ủy Trường Quân chính Quân đoàn 2, về nghỉ hưu ở thành phố Nha Trang.
Anh Vàng từ trần năm 2009, thọ 83 tuổi. Mấy ngày sau khi anh mất, đọc báo Quân đội nhân dân, tôi mới biết tin. Không vào Nha Trang dự lễ tang anh được, tôi gọi điện chia buồn với con trai anh là Đại tá, Tiến sĩ Trần Đình Việt, Phó Giám đốc Học viện Hải quân.
Trung tướng Nguyễn Mạnh Đấu





