Ngày 18/12/1971, Chiến dịch “Z” của liên quân Việt – Lào bắt đầu khai hỏa. Chỉ sau mấy ngày đầu, Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 312 đã nhanh chóng xóa số cứ điểm Phu Tâng của địch, chúng coi như “Cánh cửa thép” trên chiến trường Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng. Cùng thời điểm, Đại đội 2 súng máy phòng không của Tiểu đoàn hỏa lực 16 Sư đoàn 312 đã phối hợp các phân đội bộ binh tiến đánh và đã làm chủ một số mục tiêu tại khu vực Bản Tôn và các điểm phụ cận.
Trước sức tấn công tổng lực của ta, buộc địch phải lui về co cụm trong những khu vực được coi là “hang ổ” của chúng ở Sảm Thông, Long Chẹng.
Đầu năm 1972 theo yêu cầu nhiệm vụ, một đại đội tăng thuộc Tiểu đoàn xe tăng 195 của mặt trận được tăng cường cho Trung đoàn 141 để đánh cứ điểm Vành Khăn, Sảm Thông. Tôi – xạ thủ số 1 cùng một số xạ thủ có kinh nghiệm của Đại đội 2 được giao đảm nhiệm xạ thủ súng máy 12,7 ly cho các kíp xe tăng, gồm: Nguyễn Hữu Khoan; Nguyễn Đức Nhuần; Nguyễn Văn Vạn; Phủng và một số đồng đội nữa tôi không nhớ tên. Và tôi được giao về xe thiết giáp K63 mang số hiệu 093.
Vành Khăn là dãy núi cao có nhiều mỏm liên hoàn, đây là một chiến lũy lợi hại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của địch ở Sảm Thông. Trấn giữ Vành Khăn là các đơn vị thiện chiến lính Thái Lan. Trên cứ điểm, địch bố trí nhiều cụm hỏa lực mạnh. Xung quanh có hào, dây kẽm gai bao bọc, bên ngoài chúng cài dày đặc các loại mìn chống tăng, mìn sát thương, mìn chiếu sáng đề phòng đối phương tấn công. Ngoài ra, có không quân Mỹ và pháo binh Thái chi viện.
Do địa hình núi rừng hiểm trở, phức tạp, công binh đã tìm mọi cách khắc phục nhưng xe tăng K1, K2 đã không thể vượt qua dây 1.800m. Duy chỉ có xe tăng T34 là xe dắt đã gỡ tháp pháo, gắn thêm một khẩu 12,7 ly cùng ba xe thiết giáp K63 vào được.
Anh Phạm Ngọc Ngần, trung úy, Đại đội trưởng làm trưởng xe dắt; anh Huyền, trung úy, Chính trị viên đại đội làm trưởng một xe; anh Đạt, thượng sĩ, Trung đội trưởng làm Trưởng xe số 093, trong đó có tôi xạ thủ súng 12,7 ly. Anh Thuật, Trung đội trưởng làm trưởng một xe. Trên đường vào Bản Đào, mọi người được thông báo: địch đã loan tin phát hiện xe tăng của “Bắc cộng” xuất hiện ở khu vực Bản Đào. Trên yêu cầu phải hết sức giữ bí mật và cảnh giác. Khi tất cả đã vào tới Bản Đào, dù đã làm hết sức mình để giấu kín mọi thứ, địch vẫn phát hiện và liên tục cho phản lực, máy bay T28, B52 tới oanh tạc dữ dội. Lúc đưa xe vào nơi giấu, chúng tôi lợi dụng gầm xe khoét đất sâu xuống để trú tránh bom địch. Nhưng bom và đạn rốc két làm tan hoang cả khu rừng. Có những quả bom đã rơi sát xe thổi bay lớp ngụy trang, làm lộ ra một khối sắt xám, đất đá văng rào rào lên xe bay cả vào gầm xe nơi chúng tôi trú. Rất may, đó là đợt oanh tạc cuối ngày của địch, mọi người nhanh chóng ngụy trang lại. Thương vong đã xảy ra, tôi được cử đi khiêng thương binh của Tiểu đoàn 195 về trạm phẫu dã chiến của sư đoàn. Có hôm lo bom đánh trúng xe, chúng tôi không dám nằm dưới gầm xe, chạy ra nấp ở những hố bom cũ hy vọng xác suất may rủi. Sau mấy ngày căng thẳng, đội hình dịch chuyển sâu vào cánh rừng bên trong.
Một bộ phận được cử đi trinh sát, chọn phương án hành quân và tìm nơi tập kết ém quân chờ xuất kích. Nhóm chúng tôi đi dọc triền núi rồi tới một cao điểm (1.462m), nơi bộ binh vừa đánh chiếm và đã làm chủ. Tôi đã gặp bạn Công đồng hương cùng nhập ngũ, Công đang cùng tổ cảnh vệ tháp tùng tham mưu trưởng Sư đoàn 312 (đồng chí Duy Hàn) kiểm tra chiến trường. Bất ngờ máy bay địch bố nhào đánhvào trận địa. Tất cả lao vội xuống hầm cũ của địch, may là an toàn. Tại đây được xác định sẽ là hướng tiến của xe tăng, nhưng nhiều xác địch nằm ngổn ngang, chúng tôi buộc phải dọn để lấy đường cho xe. Đề phòng bất trắc (địch bẫy mìn), chúng tôi tìm dây luồn vào chân những xác địch buộc lại, rồi kéo ra xa lấy đường xe đi, tránh sao bánh xích xe không đè bẹp chúng.
Việc dò mìn để cho xe vào vị trí chiếm lĩnh, tổ công binh đảm nhiệm cùng các kíp xe. Tôi cũng dùng thông nòng AK để cùng dò, hai cánh tay trườn nhẹ trên mặt đất, hai bàn tay xòe ra lần mò trên những vạt cỏ hay bụi đất để nhận biết vật lạ, nhằm phát hiện râu nhọn đầu điểm hỏa của mìn… Đang dò, pháo địch bắn rất gần, chúng tôi lại lăn xuống rãnh tránh pháo, ngớt tiếng pháo lại dò tiếp. Việc dò mìn có lúc cũng phải tranh thủ khi đêm xuống. Chúng tôi đã triệt tiêu được một số mìn…
Đêm 10/3/1972 đơn vị đã bí mật đưa xe vào chiếm lĩnh trận địa. Tôi được giao khoác một miếng vải trắng trên người, tay cầm khẩu AK đi trước mũi xe độ 3 ~ 5 mét theo đường đã đánh dấu hôm đi trinh sát. Xe để chế độ garangti “cành… cành… cành…”, dù là số thấp nhất nhưng trong đêm vắng, tiếng động cơ nghe rõ mồn một. Rất lo. Khi các xe đã vượt qua trận địa cũ, mùi tử khí xác địch, mùi trận đánh sắp diễn ra…. Tiếng pháo địch bắn cầm canh vượt qua đầu chúng tôi. Trên trời máy bay C130 thả pháo sáng, thỉnh thoảng chúng lại xả từng tràng pháo 40 ly, 20 ly xuống những khu rừng nghi có đối phương. Hồi hộp và lo lắng tột độ. Càng vào gần địch, ai bảo không thể không hồi hộp, không lo lắng là dối lòng mình. Cuối cùng thì các kíp xe đã vào đúng vị trí một cách an toàn.
Tôi còn nhớ sáng sớm hôm sau, ngày 11/3/1972 tôi được phân công luồn rừng tìm vào hang hậu cần lấy cơm cả ngày cho cả kíp xe. Những nắm cơm tôi vừa mang về, không ai ăn. Cơm hôm đó, anh nuôi nấu có phần không được ngon, hay tâm trạng trước một trận đánh lớn, một trận đánh “sinh tử” nên mọi người đều có cảm xúc thật khó tả. Hơn một tuần hành quân vất vả để đưa xe vào trận địa. Có xe không vào được, thương vong đã xảy ra, lực lượng hao hụt. Trên trời máybay địch liên tục quần đảo. Phía trước mục tiêu cố định lại là “hang ổ” của địch… Bộ binh ta liệu có bám sát kịp để hiệp đồng tác chiến không. Rừng thì mênh mông bạt ngàn… Kinh nghiệm một số trận, xe tăng đơn độc khi bộ binh không theo kịp. Như đoán được tâm tư mọi người, các trưởng xe động viên anh em cố ăn để lấy sức. Cả một ngày chờ nổ súng, không ai nuốt nổi vài miếng, không ai có cảm giác đói. Một ngày chờ đợi dài như vô tận…
Chiều 11/3/1972, khoảng 16h30 pháo hiệu – lệnh tấn công được bắn lên…
Pháo, cối các loại của mặt trận, của sư đoàn, của trung đoàn cấp tập trùm lên cứ điểm Vành Khăn. Cùng lúc các kíp xe tăng ngụy trang xuất phát. Tiếng gầm rú của động cơ xe tăng T34, xe K63 nổ vang cả cánh rừng sát cao điểm Vành Khăn. Các xe nối nhau lao nhanh xuống đường đã đánh dấu. Xe tôi đi trước, xe anh Thuật đi sau. Mới đi chừng hơn vài trăm mét xe anh Thuật bị trúng mìn chống tăng của địch, rất có thể xe đã đi chệch vệt xích xe chúng tôi. Tạ lái 1 hy sinh ngay trên ghế lái, còn lại cả kíp bị thương.
Máy bay trinh sát của địch lập tức bay tới. Mấy ngày qua chúng đã đánh hơi thấy đối phương, nên liên tục bay lượn quần đảo quanh cứ điểm. Chiếc máy bay trinh sát L19 địch sà rất thấp trước xe K63 của tôi. Kíp trưởng ra lệnh bắn. Tôi bình tĩnh hướng nòng 12,7 ly rê đón đầu chiếc L19 siết cò từng điểm xạ một, buộc nó phải bốc lên cao.
Tất cả các xe theo đường sỏi dẫn tới cao điểm Vành Khăn. Địch đang ở đó. Đường gập ghềnh, độ rung xóc lớn, từ trên tháp xe tôi gọi với vào trong khoang, nhờ Hào giúp tôi vặn kéo chốt 12,7 ly để cố định 90° về phía trước. Ngay sau khi bắn mấy loạt đuổi thẳng L19, xe lao lên phía trước. Phát hiện mục tiêu cố định trên chốt địch, tôi ngắm và xiết cò bắn nhiều loạt vào chốt tiền tiêu của địch. Xe vẫn lao lên trước. Ngay lập tức địch cũng đã tập trung hỏa lực chống trả quyết liệt. Xe tôi đã tiến gần tới hàng rào đầu tiên, đạn hai bên vẫn đan chéo, nhiều đạn con của địch bắn trúng thành xe rồi văng ra. Thấy không an toàn anh Đạt không lệnh cho Hào mang mìn định hướng ra để phá hàng rào. Xe K63 cứ thế lao lên. Cũng may, hàng rào của địch không quá phứctạp. Xe K63 lướt lên đè bẹp hàng rào, tôi vẫn mải miết bắn liên tiếp vào các mục tiêu. Bên cạnh, các xe của ta cũng đang vừa dùng 12,7 ly bắn quét, vừa dùng xích chà lên hào địch. Cảm giác lúc này tôi thấy rất hăng, không biết sợ là gì (chỉ khi ngừng tiếng súng, sau trận đánh thấy phát kinh). Các xe đều đã vượt lên tới đỉnh chốt, nơi đây có những khoảng đất tương đối bằng, những ụ súng trên giao thông hào địch đang chống trả. Xe K63 dùng bánh xích chà lên những ụ súng, hầm hào của địch. Từng loạt 12,7 ly quét dọc chiến hào địch. Trong lúc tôi đang mải xả đạn vào các mục tiêu trước mặt theo chiều tiến của xe, bất ngờ một va đập cực mạnh vào thân khẩu 12,7 ly, tay phải tê dại và thõng xuống không tài nào nâng lên được, tôi gọi với vào trong, báo là mình bị thương. Tiếng nổ hỗn loạn không hiểu anh em trong xe có nghe thấy không. Sau tôi mới biết, khi không thấy súng 12,7 ly nổ, cùng lúc nhìn thấy máu chảy xuống khoang xe mọi người mới biết tôi đã bị thương. Hào và anh em vội lao lên tháp kéo tôi xuống rồi vít cửa xe lại. Trận địa vẫn đang hỗn loạn, những tiếng nổ như xé tai. Lúc này chưa thấy bộ binh của ta đâu, anh Đạt cùng Hào và Tăng lái 2 dùng AK bắn mạnh ra bên ngoài qua các lỗ ở hai bên sườn xe. Các xe khác của ta cũng đang tung hoành trên cao điểm. Nằm trong xe thấy nhảy chồm chồm, rung giật, vết thương tay tôi tê nhức, tôi cắn răng chịu đau để các anh khỏi lo. Các loại đạn của địch vẫn xối xả bắn vào thành xe, nghe rợn người.
Bất ngờ xe K63 của chúng tôi khựng lại. Xe bị trọng thương. Tôi cũng không nhớ thật chính xác tình trạng cụ thể… Chỉ biết thời điểm xe bị là lúc xe đang chênh vênh trên đỉnh Vành Khăn sát ngay sườn dốc, dưới là một thung lũng sâu. Anh Bình thông báo xe hỏng col, không điều khiến được, nó có thể trôi theo dốc, vì thân xe đang rất nghiêng…
Ngay sau đó, xe cứ theo đà dốc trượt xuống thung lũng bên dưới chân cao điểm. Cũng may sườn dốc lại toàn những bụi cây lúp xúp, nhưng độ dốc khá lớn, xe cứ trượt đi không hề vướng gì. Khi ấy trời còn sáng, từ đỉnh cứ điểm xuống chỗ xe dừng lại được chừng hơn trăm mét. Trong cái rủi có cái may, vì là xe bọc thép nó rất nặng nó trượt dốc tự do, nếu là vực thẳm chắc sẽ lộn tùng phèo không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Khi xe dừng, máy bay L19 của địch nhào theo bắn pháo khóichỉ điểm cho phản lực F4, máy bay T28, AD6 lao tới ném bom, bắn rốc két. Cứ tưởng xe sẽ tan tành. Thành xe nham nhở vết bom đạn. Một mảnh bom găm vào hông Hào, vừa băng xong, lại một mảnh vào đầu và Hào đã hy sinh ngay trong xe. Hào là chiến sĩ ưu tú của Tiểu đoàn công binh 17. Tiếng gầm rít của máy bay, tiếng bom nổ. Chúng tôi ngồi nín thở trong xe để vỏ xe che chở, chờ sự may rủi. Nếu bom không trúng thì may ra toàn mạng. Nhìn qua bên phải trên đường vào Long Chẹng còn thấy một xe của ta bị cháy, đó là xe anh Huyền. Cuối trận biết anh Huyền hy sinh, còn lại đều bị thương.
Khi trận chiến im tiếng súng, trời đã sâm sấm. Chúng tôi dùng xà beng phá cửa xe thoát ra ngoài. Xe xác xơ, khẩu 12,7 ly nham nhở vết đạn, những đoạn xích dự trữ gắn ngoài thành xe cùng dụng cụ các loại bị thổi sạch sành sanh… Đang ngơ ngác không hiểu trên Vành Khăn ra sao, liệu ta có làm chủ trận đánh không? Nghe lao xao tiếng người trên chốt. Địch hay ta? Mọi ngươi cùng lắng nghe thì nhận ra tiếng Việt, tiếng của quân mình. Do có tử sĩ và thương binh, anh Đạt cất tiếng gọi nhờ trên đó xuống giúp. Anh em trên đó nói vọng xuống, các anh chịu khó lên đi, cẩn thận kẻo nhiều mìn lắm đấy. Sau này mới vỡ lẽ, trên cao điểm khi ta đã làm chủ trận địa, nhưng thương vong không nhỏ, anh em cũng đang phải dốc sức khắc phục hậu quả… Loay hoay một hồi, chúng tôi cũng chặt được khúc cây, rồi bó Hào vào thành cáng vừa dò tránh mìn, vừa tìm đường khiêng Hào và dìu thương binh lên.
Tối đó, cả kíp xe liêu xiêu cáng thi thể Hào về. Mệt mỏi rã rời, người còn người mất. Mãi khuya, chúng tôi cũng mò về tới một cái hang nhỏ trong khu vực Sảm Thông. Vừa tới cửa hang, mới kịp đặt cáng Hào tạm cửa hang ngồi nghỉ cho lại sức. Bất chợt nghe tiếng ì ì vọng tới, ngay lập tức đất dưới chân rung lên, khói bụi mù mịt, đất đá rào rào bay tới tấp, bom “tọa độ” nổ ầm ầm. Mọi người vội lao vào hang. Dứt đợt bom B52 cuối cùng, anh em rũ đất đá vùng dậy chạy ra… Không thấy Hào đâu, chỗ đặt Hào chỉ trơ lại một hố sâu hình phiễu khổng lồ nham nhở đất đá… Hào lại hy sinh thêm lần nữa, thi thể bay biến đâu không biết. Ngực tức, mắt mũi đầy bụi, cổ nghẹn ứ lại, nước mắt chảy vào trong. Hào đã tan vào hư không…
Gần trọn 50 năm, trận đánh cứ điểm Vành Khăn luôn hiện hữu trong tôi những cảm xúc rất riêng. Niềm vui chiến thắng xen nỗi buồn sâu thẳm rất khó tả… và cũng rất khó quên. Xe thiết giáp K63 mang số hiệu 093 đã che chở cho chúng tôi đồng hành với các kíp xe trong đội hình tung hoành trên cứ điểm địch, để góp nên một chiến thắng rất khó khăn. Xe K63 số 093 đã ngã xuống rồi nằm lại mãi mãi dưới thung lũng Vành Khăn, Sảm Thông cuối ngày 11/3/1972.
Sau chiến tranh, những năm gần đây anh em đồng đội cùng chiến trường mới có dịp tìm gặp nhau, hoặc nhờ internet giao lưu trên mạng. May mắn tôi tìm thấy những tấm hình xe K63-093. Nhìn tấm ảnh tư liệu, lòng dạ lại chộn rộn bao nỗi niềm. Ôi Vành Khăn, ôi bạn Hào công binh quả cảm đã nhanh tay hỗ trợ cố định nòng súng 12,7 ly cho tôi bắn địch. Và hơn thế nữa, lúc tôi bị thương anh đã kịp lao lên kéo tôi vào khoang xe băng bó… Khiêng anh về mà không kịp mặc cho anh tấm áo mới. B52 ào tới, chúng tôi có lỗi không thể kịp đưa anh vào, anh đã hóa thân vào cát bụi rừng Lào. Thương anh vô cùng!
Hòa bình được mấy năm, tôi có gặp một đơn vị Tăng – Thiết giáp trên đường Trường Chinh, Hà Nội, hỏi các anh là hiện nay có chiếc K63 nào mang số hiệu 093 không, các anh nói là không. Tôi cũng có nói với các anh, chiếc K63 số hiệu 093 đã “ngã xuống” và nằm lại tại thung lũng Vành Khăn của rừng Lào trong một trận chiến bi tráng! Hào hùng thay! Trận này, tuy ta thắng lớn, lực lượng thiết giáp Tiểu đoàn 195 tăng cường cũng góp công không hề nhỏ. Nhưng cũng bị thương, chỉ một xe dắt trở về, anh Ngần bị thương vào mắt, đi viện, sau anh về công tác tại Bộ Tư lệnh Tăng – Thiết giáp, rồi anh nghỉ hưu, anh là thương binh, tôi vẫn gọi điện thăm anh, nay anh đã ngoài 85 tuổi. Xe anh Huyền bị cháy, anh Huyền hy sinh, anh Tăng lái 2 bị thương, tôi cũng thường điện thoại thăm hỏi, anh Khoan xạ thủ 12,7 ly cũng bị thương. Xe anh Thuật đi sau xe, bị trúng mìn chống tăng đứt xích; Tạ lái 1, hy sinh trên ghế lái; anh Thuật, Bảo lái 2, xạ thủ 12,7 ly Nhuần bạn tôi đều bị thương. Dù trước đó bọn tôi đã đi dò mìn hết cả đoạn đường tới gần chân cứ điểm, vậy mà vẫn không thể hết, thật là thương tâm!
Một trận đánh thắng, nhưng niềm vui chưa trọn vẹn.
Một thời đã qua, những người còn lại sau cuộc chiến luôn tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống. Cầu cho các anh dẫu không thể về được quê mẹ, các anh hãy an giấc nhé! Gió rừng Lào sẽ hát ru; mưa trời Lào sẽ tắm mát hồn lính trẻ. Tổ quốc Việt – Lào mãi mãi khắc ghi công lao trời biển của các anh!
Thượng tá Đào Nhuận





