Đầu năm 1966, Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 chúng tôi nhận nhiệm vụ phòng ngự khu vực Phu Noọng thuộc huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng thay cho đơn vị bạn. Tiểu đội tôi được giao chốt ở Đồi Cháy. Đây là chốt tiền tiêu đối diện với địch ở Cò Hai. Khi trời quang, ta và địch nhìn thấy bóng nhau đi lại. Bất cứ ai giữ chốt đều thấu hiểu nỗi căng thẳng và gian khổ; thiếu rau, thiếu nước, vài ngày mới được xuống khe lấy nước, kết hợp tắm giặt. Mà tắm giặt, lấy nước nhiều phen giẫm phải bẫy mìn, chạm địch, nổ súng thương vong lại xảy ra… Ở chốt vài ba tháng, hầu hết chúng tôi bị thiếu dinh dưỡng. Nhiều bệnh phát triển như tiêu chảy, kiết lỵ, chảy máu chân răng, răng lung lay, tay xước măng rô, tóc rụng… Cả chốt cạo trọc đầu nom ngồ ngộ, rất buồn cười. Ngày đó chúng tôi đều 18 đôi mươi, trẻ trung, ngây thơ lắm. Gian khổ thiếu thốn, người gầy nhom.
Nhiệm vụ chủ yếu là canh gác, lùng sục tiền duyên, sẵn sàng đánh chặn địch. Ngoài ra, còn nhiệm vụ hết sức quan trọng là làm các loại bẫy, bẫy thú rừng chim, chuột, sóc cho đến con chồn, con nai, đào dúi, hái măng, nấm, rau rừng… để cải thiện bữa ăn. Tóm lại thứ gì ăn được là chúng tôi kiếm về. Rừng già nên rau rất hiếm.
Một ngày cuối tháng 3/1966, tổ tôi đi lùng sục tiền duyên. Tổ gồm 4 người do Tiểu đội phó Đào Hạng chỉ huy, tôi Bùi Văn Thẩm, Lò Văn Lai và Lường Văn Sết. Vũ khí gồm một trung liên, ba AK. Tuyến tuần tra là khu vực Khăm Pha Niên, Pha Mo Én và các điểm phụ cận. Quá trưa, việc tuần tra đã hoàn thành, không phát hiện dấu vết địch. Khi chuẩn bị quay về, Lai nêu ý kiến:
– Hôm nay trời đẹp, mọi sự yên bình, đề nghị anh Hạng cho đi thêm, may ra kiếm được ít rau về cải thiện.
Ai cũng đồng tình. Thấy hợp lý, anh Hạng quyết định đi tiếp về phía Xen Chồ, và nhắc anh em giữ cự ly, bám đội hình, tuyệt đối bí mật, cảnh giác, sẵn sàng đánh khi gặp địch. Tất cả ai cũng tỏ rõ quyết tâm, Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi đến một vạt rừng non, linh cảm có điều khác lạ. Hình như là rất gần địch. Dân vùng này hoặc là theo địch, hoặc bị dồn lập vành đai lá chắn. Đi hết vạt rừng non trời bỗng sáng choang, cả tố dừng lại quan sát. Trước mặt, phía dưới dốc là một nương ngô xanh mát mắt. Dưới là khe suối nhỏ, bên kia cũng là nương ngô lên tận đỉnh một yên ngựa. Chúng tôi nhận định, phía bên kia yên ngựa sẽ là bản của dân. Địch thường bắt dân ra ở phía trước, chúng ở phía sau. Anh Hạng giao Sết cảnh giới, Lai ở trên, anh Hạng và Thẩm len vào giữa nương. Ngô tháng ba cao ngang ngực, lá xanh biếc. Những cụm đá tai mèo nhấp nhô ẩn hiện. Người dân thường trồng bí ngô xen trong cây ngô. Những khóm bí bò lan, ngọn mơn mởn, lá như lá sen, nhìn mà sướng. Lướt qua đoán có thể vớ được bữa ngon.
Chúng tôi, đứa cảnh giới đứa lom khom cắt ngọn bí. Bỗng nghe Sết huýt sáo “chít chít”, báo hiệu có người. Tất cả ngồi thụp xuống, nấp sau các mô đá tai mèo quan sát. Một loạt súng cạc-bin nổ ở phía yên ngựa đối diện, rồi một tốp năm người xuất hiện. Ba tên lính ngụy Lào nghênh ngang đi trước, hai đứa con gái đeo gùi đi phía sau. Bọn chúng lao phăng phăng xuống dốc, cười nói oang oang, vừa đi vừa bắn lung tung như khoe mẽ với hai cô gái. Qua khe suối, chúng lên nương ngô chúng tôi đang nấp. Quan sát qua loa, chúng yên trí không thấy gì khả nghi, ba tên trèo lên chòi coi nương. Một tên đứng lên lia một băng tiểu liên cực nhanh, có viên cày vào mỏm đá tai mèo nơi tôi đang nấp làm những viên đá tung tóe. Tôi thót tim, co người ép sát đất sau mỏm đá… Bọn chúng cười đắc chí rồi cởi bao xe đạn và dựng súng ngay cửa chòi. Chòi chỉ cách tôi hơn mười mét. Bọn chúng nằm khểnh, hút thuốc rê khét lẹt. Lúc này hai cô gái tản ra đi hái ngọn bí. Tình huống cực kỳ nguy hiểm. Tôi khẽ ra hiệu cho Thấm cùng tôi tiếp cận chòi. Mục tiêu là ba tên lính. Khi cách chòi chừng vài mét cũng là lúc hai cô gái đến ngay trước mặt Lai. Thấy khẩu trung liên lăm lăm trên tay Lai, hai cô trợn tròn mắt, miệng ú ớ. “Dút mư khửn” (1)- Lai lao lên chòi hô lớn,khẩu trung liên chĩa thẳng về phía địch. Anh Hạng cùng Thẩm nhảy lên dí súng trước mặt ba tên địch. Quá bất ngờ, bọn chúng giơ hai tay lên đầu, mặt tái mét, tôi nhanh chóng thu 3 khẩu súng. Sết cũng kịp lao tới. Chúng tôi dùng dây dù trói giật cánh khuỷu ba tên vào cột chòi. Sết lấy 3 bao đạn và lựu đạn. Anh Hạng hô rút và bảo Lai nói nhanh với ba tên địch: “Chúng tôi không giết các anh. Lát nữa sẽ có người cởi trói rồi về nhà với vợ con làm ăn lương thiện, không đi làm phỉ cho Mỹ và Vàng Pao, Mặt trận ĺtxala sẽ khoan hồng”. Anh Hạng ra hiệu cho Lai bắt hai cô gái chạy theo. Tất cả lao nhanh vào khu rừng non rồi trở lại tuyến đường cũ. Khoảng hơn 10 phút thì dừng lại. Mọi người thở hổn hển. Tôi và Sết cảnh giới, anh Hạng và Lai nói chuyện với hai cô gái. Hai cô rất sợ, mặt tái xanh, họ cứ ôm chặt lấy nhau. Nhìn kỹ mới biết hai cô này tầm hai tám, ba mươi tuổi. Lai là người dân tộc Thái nên nói họ dễ hiểu. Anh Hạng nói, Lai dịch lại cho họ, đại loại:
– Các chị đừng sợ, bộ đội Việt Nam không làm hại các chị.
– Bộ đội Việt Nam sang giúp người Lào đánh Mỹ giành lại nương rẫy. Chúng tôi coi dân bản Lào như dân Việt, người Lào cũng coi người Việt là anh em một nhà.
Tranh thủ hỏi thêm về lực lượng địch, hỏa lực, chỗ ở, nơi canh phòng của chúng nhưng không thể hỏi nhiều, phải rút nhanh. Anh Hạng còn nói thêm, hai chị về cởi trói cho ba người lính. Bảo với họ, bộ đội Việt Nam không giết họ đâu, hãy quay về với dân bản đừng đi lính làm hại dân bản… Cả hai chị tỏ ra tự tin hơn, họ chắp hai tay trước ngực theo nghi lễ đạo Phật tỏ lòng biết ơn. Tôi vẫy tay ra hiệu cho hai chị đi đi. Họ đi chừng dăm bước bỗng quay lại. Một chị lấy trong túi đeo bên người ra một nắm củ, loại củ nhỏ như ngón tay, giống như củ cải, màu ngà ngà. Chị nói, đây là loại củ làm thuốc, ở bản Phu Noọng có nhiều (chị nhận là người ở Phu Noọng bị địch bắt cả nhà theo chúng vào Xen Chồ). “Bộ đội đào về rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô rồi rang lên làm nước uống thì tốt”. Chúng tôi thấy có thể tin và nói cảm ơn rồi nhanh chóng rút.
Hôm ấy chúng tôi thu 3 khẩu súng, 360 viên đạn, 6 quả lựu đạn, 3 dao găm, chiến lợi phẩm còn thêm mấy bó rau và 4 củ rừng cô gái Lào cho.Nhận được báo cáo, Đại đội phó Điều Chính Yêu lên thăm và thưởng chốt 3 xiên thịt gấu khô. Chúng tôi gửi biếu 3 bó rau bí để cán bộ liên hoan. Rau bấy giờ sao mà quý đến thế! Quân y đại đội xác định củ đó không độc, sao vàng, pha nước uống tốt. Các chốt tổ chức đi đào và đặt tên là “sâm rừng”. Đào được nhiều thái lát phơi khô, gói kỹ, dùng lâu dài.
Thật hiệu nghiệm, sau vài tháng uống nước “sâm rừng” anh nào anh nấy da dẻ hồng hào, tóc mọc lại, răng hết lung lay, môi hồng như con gái. Nhờ uống nước sâm rừng mắt sáng và tinh hẳn lên.
Ngày 12/8/1966, trong lúc vừa trực trận địa vừa tranh thủ thái sâm, máy bay địch ào tới tập kích, khẩu đội đại liên của Võ với 9 viên đạn đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay AD6, diệt giặc lái. Đây là chiếc máy bay đầu tiên mà Đại đội 2, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 866 chúng tôi bắn rơi trên chiến trường Xiêng Khoảng.
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “coi đồng bào Lào như đồng bào mình”, tôi nhớ bài giảng của cán bộ chính trị khi dẫn lời của các đồng chí lãnh đạo Lào nói về công tác dân vận, địch vận, đại thể: “Nước Lào rộng, dân ít. Nếu trận nào cũng diệt được nhiều địch, vậy sau khi chiến tranh kết thúc thì lấy ai xây dựng kiến thiết đất nước? Do vậy chúng ta cần phải bắt cá mà không làm đục nước, đó mới là chiến thắng trọn vẹn!”.
Bùi Văn Thẩm





