Sau chiến thắng Hàm Rồng vang dội, cảm giác lâng lâng khi đơn vị mình cùng quân và dân Thanh Hóa làm nên chiến công đó vẫn còn. Tôi cùng một số đồng đội nhận lệnh sang nước bạn làm nghĩa vụ quốc tế. Các bạn biết đấy, đời bộ đội cứ có lệnh là đi.
Xe chở chúng tôi về Động Thiên Tôn (Ninh Bình) để nhận vũ khí những khẩu 37 ly của Trung Quốc mới tinh, bám đầy dầu mỡ, những hòm đạn nặng trĩu trên vai được chuyển lên ô tô. Nhận xong vũ khí đạn dược xe lại chở chúng tôi về cầu Gián (Ninh Bình). Chiếm lĩnh trận địa xong thì trời cũng vừa sáng.
Đơn vị vừa thành lập nên từ cán bộ đến chiến sĩ đều do các đơn vị khác nhau bổ sung về; các anh là lính vừa tái ngũ quê Thanh Hóa; một số lính nhập ngũ 1964; tân binh nhập ngũ tháng 4/1965 quê Hà Nam cũng được chuyển đến. Sáng hôm sau, tôi nhận ra Dương Văn Đăng quê Dương Nội, cùng nhập ngũ (hồi đó, tôi vào Hàm Rồng. Đăng ở lại Vân Đình). Hai đứa vui mừng khôn xiết, ôm vai nhau lắc lắc. Thế là bây giờ hai thằng vừa là đồng ngũ vừa là đồng hương lại được ở bên nhau.
Ngày đầu, mọi người trong đơn vị còn cảm giác xa lạ nhưngvài hôm sau chúng tôi cũng nhanh chóng quen thân, quấn quýt bên nhau- tuổi trẻ mà.
Trung đội của tôi do anh Dậu – thiếu úy vừa mới ra trường làm trung đội trưởng. Năm 1966, anh giữ chức đại đội phó được ít ngày thì hy sinh ngay tại trận địa. Hôm đó, anh trực chỉ huy trận địa bờ đê khi đơn vị bảo vệ cầu Non Nước – Ninh Bình, địch thả bom ban đêm, anh đã hy sinh trong nỗi tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng đội.
Đơn vị có anh Sỹ là lính tái ngũ làm khẩu đội trưởng. Lúc ấy, anh chắc cũng trên dưới 30 tuổi, tính hiền lành nên tôi rất quý. Thấy tôi yếu nên anh thường phân công những việc nhẹ cho tôi. Anh Bạch Đồng Sinh quê Đồng Văn – Hà Nam lính 1964 đảm nhiệm vị trí pháo thủ số 1. Anh Phạm Văn Khiêu là đảng viên (lính tái ngũ quê Quảng xương Thanh Hóa), do anh bị dạ dày nên môi lúc nào cũng thâm lại, thỉnh thoảng lại ôm bụng kêu đau. Tính anh rất điềm đạm, làm pháo thủ số 2 (hồi ấy với khẩu hiệu yếu hơn thiếu nên nhiều anh dẫu yếu nhưng khi khám tuyển vẫn đủ tiêu chuẩn nhập ngũ hoặc tái ngũ). Còn Dương Văn Đăng, người thâm thấp đảm nhiệm pháo thủ số 3. Tôi dong dỏng cao nên được làm pháo thủ số 4, suốt ngày ngẩng mặt lên trời, theo dõi máy bay địch để lấy đường bay, góc bổ nhào sao cho chính xác để hiệp đồng với các pháo thủ trong khẩu đội. Anh Vượt quê Ba Đình – Hà Nội, người thấp nhưng to con, khỏe đảm nhiệm vị trí số 5, chuyên đưa đạn vào nòng cho pháo bắn. Em út Nguyễn Đình Thành vừa nhập ngũ quê Hà Nam làm nhiệm vụ số 6 (Thành tôi nghe anh em cho biết cũng hy sinh ở trận địa Ninh Bình).
Về cầu Gián, đơn vị vừa huấn luyện, vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ cầu, từ chỗ chưa thạo tay tầm, chưa quen tay hướng, rồi lính cũ hướng dẫn lính mới. Qua thực tế chiến đấu tôi và anh em đều đã thao tác thành thạo, vững vàng trên mâm pháo đối mặt với kẻ thù.
Ngoài việc học tập quân sự, chúng tôi còn học chính trị, xác định nhiệm vụ sẵn sàng đi chiến trường C làm nhiệm vụ quốc tế. Biết rằng sang đấy là gian khổ, khó khăn nhưng chúng tôi ai cũng sẵn sàng. Trước ngày chuẩn bị hành quân, chúng tôi được lệnh các thư từ, sổ sách có chữ Việt Nam đều phải gói gém gửi qua bưu điện để chuyển về gia đình, không được mang theo bởi lúc này đi Lào còn rất bí mật.
Vào một buổi chiều tháng 6 năm 1965, đơn vị lặng lẽ rời khỏi trận địa Cầu Gián. Xe pháo qua thị xã Ninh Bình, qua các trọng điểm trên đường 1. Và cây cầu Hàm Rồng thân quen đây rồi. Trong đêm tối, tôi ngước nhìn các ngọn đồi xung quanh, nơi đó có các đồng đội cũ của tôi đang canh gác bầu trời Thanh Hóa để đơn vị chúng tôi vượt qua cầu được an toàn. Chào các đồng đội của tôi, chào các O Hàm Rồng, lòng tôi nao nao nhớ về các bạn. Thành nhà Hồ đây rồi, xe chui qua cổng thành hướng về phía tây đi tiếp. Cứ như thế, đêm này qua đêm khác từ Cẩm Thủy, Thạch Thành đến Đồng Tâm, Lang Chánh. Đoàn xe pháo của chúng tôi lần lượt vượt qua.
Cái nắng tháng sáu nơi miền tây Thanh Hóa mới kinh khủng làm sao, nó như thiêu như đốt người lính. Đêm thì hành quân, đến nơi lại sửa sang công sự, tiếp tục trực chiến suốt cả ngày. Anh nào chưa đến phiên trực thì chui vào gầm pháo tranh thủ ngủ được chút nào hay chút ấy để lấy sức đêm lại hành quân. Mâm pháo hấp thu ánh nắng mặt trời nóng như chiếc chảo rang. Anh em chui vào gầm pháo thì bị sức nóng của mâm phá dội xuống càng thêm nóng nực. Mồ hôi thằng nào cũng túa ra như tắm. Mặc cho nắng nóng, lính ta vừa chui vào gầm pháo một lát đã ngáy vang. Khổ nỗi nào có ngủ được nhiều bởi máy bay địch thường xuyên nhòm ngó nên đơn vị luôn vào báo động cấp 1 (đã báo động cấp 1 thì tất cả các pháo thủ đều phải sẵn sàng trên mâm pháo vào vị trí của mình chờ lệnh ). Nếu không báo động thì những thằng thức trực chiến bày ra nghịch lấy mắm tôm và mỡ pháo ( hai thứ này thì khẩu đội nào cũng sẵn ) mỡ pháo để bảo quản pháo, còn mắm tôm là thức ăn chủ lực của lính.
Hai thứ này trộn với nhau, sau đó dùng bơm chuyên để bơm mỡ vào cho pháo . Thứ hỗn hợp đó được đưa tới mũi những thằng đang ngủ. Thằng khó thở thì tỉnh ngủ, thằng ngủ say há mồm ra rồi ngủ tiếp. Mấy thằng còn lại nhìn nhau cười khoái trí. Mặc cho gian khổ vẫn cứ nghịch ngợm, yêu đời. Đêm hành quân, ngày trực chiến, được vài hôm thằng nào thằng nấy hốc hác, bơ phờ.
Sau khoảng một tháng hành quân vất vả, đêm ấy chúng tôi đã đến Na Mèo. Nơi đây có nghĩa trang Liệt sỹ to lắm, chủ yếu là bộ đội Việt Nam hy sinh ở Sầm Nưa và phía bắc Lào. Lính ta đặt tên cho nghĩa trang là Trung đoàn Na Mèo. Rồi hỏi đùa nhau: liệu tới đây, chẳng biết thằng nào vinh hạnh được biên chế về đơn vị này.
Cấp trên thông báo: Đây là biên giới Việt Lào. Chỉ nghe hai tiếng “biên giới”đã ấn tượng làm sao. Ngày trước đi hoc chỉ biết biên giới qua sách vở thì bây giờ tôi được tận mắt chứng kiến là vượt qua biên giới, chẳng biết biên giới to, bé, lớn, nhỏ ra sao nhưng trong lòng háo hức đợi chờ.
Ngồi trên xe, thằng nào cũng rướn cổ lên nhìn về phía trước như đợi chờ một điều gì đó hết sức linh thiêng. Nhưng nào có thấy gì đâu, chỉ toàn rừng núi âm u, chẳng một ánh đèn leo lét. Xe pháo của chúng tôi cũng từ từ lăn bánh. Biên giới đây rồi, cái ba ri e được nâng lên. Từng chiếc, từng chiếc xe vượt qua ba ri e ấy.
Thế là đã qua biên giới, đã sang tới đất Lào. Biên giới tôi từng nghĩ trong đầu và biên giới tôi vừa trải nghiệm thật là một trời một vực. Trên đất Việt nam thì chúng tôi ngủ gà ngủ gật. Sang tới đất Lào thì được lệnh ngồi trên xe nhưng vẫn phải cảnh giới hai bên đường, súng AK đã lên lên đạn đề phòng bọn phỉ Vàng Pao phục kích. Nét lo âu cũng thoáng hiện trên khuôn mặt của những thằng lính trẻ chúng tôi. Chẳng đứa nào buồn ngủ nữa, mắt luôn dõi về phía trước, dẫu rằng đêm tối vẫn mịt mùng … Đoàn xe nặng nhọc vượt qua đèo Pa Pông, đèo thì cao chót vót. Anh đèn gầm của những xe đi trước phản chiếu, xe sau nhìn lên cứ ngỡ pháo sáng của máy bay địch thả xuống. Có thằng đã định giơ súng lên bắn báo động (đơn vị có quy định trong hành quân nếu ai phát hiện thấy máy bay địch thì được quyền nổ súng chỉ thiên để báo động cho đơn vị biết).
Hết lên đèo rồi lại xuống đèo. Với những tay lái cừ khôi của đơn vị, xe của chúng tôi cũng đã vượt qua đèo an toàn, đi một đoạn đường nữa là tới nơi đơn vị đưa pháo vào trận địa.
Đây là tỉnh Sầm Nưa thuộc vùng giải phóng của Lào. Chiếm lĩnh trận địa xong, khẩu đội tiến hành sửa sang, ngụy trang công sự làm công tác chuẩn bị chiến đấu.
Công việc tạm xong các thì trời cũng vừa hửng sáng . Một ngày mới trên đất bạn Lào cũng đã bắt đầu. Thời tiết ở đây vào mùa này cũng rất thất thường, trời đang leo lẻo trong xanh, nhưng bỗng nhiên cơn mưa cứ ào ào trút xuống. Rồi mươi phút sau nắng lại bừng lên.
Để đảm bảo bí mật, bất ngờ, những ngày đầu sang đây chúng tôi không được dựng lán . ngày thì trực chiến, học tập bên mâm pháo, ai đến phiên thì trực chiến. Còn ai chưa đến phiên thì trải bạt pháo ra, chen lấn nhau ngủ ngay bên trong công sự. Sáng tỉnh dậy quần thằng nào cũng đỏ lòm những máu . Bên trong tấm bạt là những chú vắt no tròn cũng nằm lăn long lóc tối trời mưa thì chỉ còn cách chùm áo mưa ngồi chờ trời sáng. Sau này,
chúng tôi mới được phép dựng lán với quy định sáu giờ tối mới được làm lán, bốn rưỡi sáng hôm sau phải khẩn trương dỡ lán.
Dù sao vẫn còn hơn phải ngủ ngoài trời. Sang đây, ngoài quân tư trang chúng tôi chỉ có một it giấy pơ luya để viết thư về cho gia đình. Sau khi viết thư xong phải đưa cho chính trị viên duyệt. Nếu thấy không để lộ bí mật quân sự cụ thể là không được cho gia đình biết mình đang ở bên Lào thì đại đội sẽ gửi cho lái xe chở đạn và lương thực sang tiếp tế cầm về nước để qua bưu điện chuyển cho gia đình. Về cá nhân, mỗi thằng chúng tôi lúc nào cũng phải kè kè một mảnh tôn bé bằng ba ngón tay để trong túi áo ngực. Mảnh tôn ấy anh em cắt từ vỏ hộp đạn ra . đục thành những hàng toàn bằng số ( không có chữ) do cán bộ đại đội hướng dẫn . Chẳng hạn hàng đầu tiên số ngày tháng năm sinh , hàng thứ 2 là ngày vào Đoàn, vào Đảng . Hàng thứ ba là phiên hiệu đơn vị hoặc số thứ tự theo danh sách chiến sỹ của đại đội lưu tại trung đoàn ở trong nước … Nếu chẳng may có hy sinh, sau khi xác liệt sỹ được chở về nước, căn cứ vào mảnh tôn ấy so sánh với giấy tờ lưu lại để xác định danh tính, quê quán của Liệt sỹ.
Ở đây máy bay địch quần đảo suốt ngày, chúng lợi dụng triền núi bay rất thấp, cũng có lúc lợi dụng ánh mặt trời để bổ nhào cắt bom. Lúc thì đánh thẳng vào trận địa, lúc thì đánh vào mục tiêu. Sang đây nhiệm vụ chính của đơn vị là bảo vệ căn cứ của Đảng và chính phủ Lào đặt tại khu giải phóng. Ngoài bộ đội cao xạ Việt Nam còn có một số đơn vị cao xạ của bộ đội Pha thét Lào cùng hợp đồng tác chiến, bảo vệ mục tiêu. Đôi lúc thấy máy bay địch còn xa đã thấy đơn vị bạn nổ súng. Bộ đội cao xạ Việt Nam đã có phương án tác chiến, khi chưa có địch thì tăng cường tập luyện, đến khi máy bay Mỹ đến thì căn cứ vào phương án mà đánh địch. Quân ta để cho chúng đến cự ly phù hợp hoặc khi bổ nhào thì mới nổ súng. Bởi lúc ấy đạn dễ trúng mục tiêu. Cũng vì vậy mà chúng rất sợ, thường thì bom, tên lửa hay rốc két chúng phóng xuống nhiều khi rơi ra ngoài ít khi trúng vào trận địa . Những lúc này bộ đội ta rất dũng cảm kiên cường, các pháo thủ bình tĩnh thao tác, nhằm thẳng vào máy bay địch mà bắn. Những khẩu hiệu như: Địch đánh chưa chắc đã trúng – trúng chưa chắc đã chết – chết Tổ quốc ghi công . Hoặc bị thương nhẹ vẫn tiếp tục chiến đấu – bị thương nặng không rên la – chưa hy sinh chưa rời trận địa đã thôi thức động viên chúng tôi vững vàng trên mâm pháo.
Có lần thằng L bị thương rất nhẹ ở tay. Thế là cậu ta nhảy xuống khỏi mâm pháo rồi kêu ầm lên: “Tôi bị thương rồi, các đồng chí trả thù cho tôi”. Chỉ vậy thôi, sau đó L bị kiểm điểm.
Khi ở trong nước, chúng tôi ăn chế độ 7,8 bảo một ngày. Nếu là trinh sát thì được ăn thêm 1,2 hào, là lính đo xa thì thêm những 2,4 hảo. Sang đây thì như nhau tất, gạo thì không thiếu, thức ăn thì chẳng có gì ngoài mắm tôm, cá khô đã mục , đỗ xanh hột. Thỉnh thoảng lắm có xe tiếp tế sang thì mỗi đơn vị được vài cân thịt lợn đã ướp muối mặn chát. Dù mặn, với chúng tôi lúc đó là hạnh phúc lắm rồi.
Một buổi chiều, đến lượt tôi vào rừng đi lấy lá ngụy trang, mà lấy cũng phải chọn loại lá dày. Với cái nắng nóng ở đây, lá mỏng chỉ một lúc đã héo quắt làm sao mà che mắt địch được. Gần tối tối tôi kéo lá về, khẩu đội đã cơm nước xong rồi. Tôi thấy lạ mọi lần trước đi lấy lá về họ phần tôi có tẹo canh, sao hôm nay lại phần nhiều vậy. Tôi chẳng nghĩ nhiều, cứ thế rồi chan , rồi húp. Ăn xong chúng mới cười ầm cả lên bảo:
“Hôm nay cho thằng Xiêm anh canh vắt”.
Thì ra chẳng biết anh nuôi nấu nướng thế nào mà lính ta phát hiện trong canh có nhiều vắt, thế là mọi người bỏ nên mới phần tôi nhiều vậy. Nuốt vào rồi chỉ lầm bầm tí chút rồi cười trừ chứ biết làm sao.
Ăn uống thì kham khổ di chuyển trận địa cũng liên tục. Nếu trong ngày đã bắn lên, dù chỉ vài loạt đạn thì y rằng đêm ấy đơn vị phải lập tức di chuyển sang trận địa khác . Có những đêm hành quân từ trận địa Pa Pông sang trận địa Na Kay xe chuyển bánh thì trời cũng đổ mưa như trút. Ngồi trên xe, mặc áo mưa nhưng thằng nào cũng vẫn bị ướt, người rét run cầm cập. Anh em ngồi sát vào để truyền hơi ấm cho nhau, đường thì trơn, lầy lội lại xóc nữa. Anh Hòa B phó (lính tái ngũ) không biết bị cây rừng ngáng hay xe xóc mà bị văng xuống đường may chỉ bị thương, nên phải chuyển về nước điều trị. Thỉnh thoảng xe ì ạch không nhúc nhích thế là lính ta lại phải xuống đẩy cả xe lẫn pháo. Thế rồi khoảng 8 giờ xe pháo cũng vào chiếm lĩnh trận địa mới. Cũng may trời đầy mây, vẫn mưa nên từ sáng đến giờ chưa có máy bay Mỹ dòm ngó.
Trận địa mới ở Na Kay đặt trên một thảm rừng đối bằng phẳng. Ở đó chỉ toàn một một loại cây xả mọc tôt um tùm, mùi thơm của xả lan ra toàn trận địa.
Theo một số cán bộ cho biết tại trận địa này, mấy tháng trước, cũng một đơn vị của trung đoàn tôi đã bị bom na pan thả trúng trận địa, các cây xả bị cháy hết. Thế mà chỉ mấy tháng thôi, giờ chúng đã hồi sinh, mọc lên tươi tốt. Cũng tại trận địa này tôi có một kỷ niệm mà chẳng bao giờ quên. Lúc ở nhà, khi tôi 14 hay 15 tự nhiên tôi bị ngất đi vài phút hay vài giây, sau đó thì tỉnh lại , người thấy vẫn bình thường chẳng phải thuốc men gì. Và ở trận địa này tình huống ấy cũng bị lặp lại. Hôm ấy, đơn vị đang vào báo động cấp 1, tôi đang đứng trên mâm pháo ở vị trí số 4 thế là tự dưng ngất đi ngã xuống công sự anh em bế tôi vào lán (thời gian này chúng tôi không phải rỡ lán nhưng phải ngụy trang cần thận ). Tỉnh dậy, thấy mình nằm trong lán, tôi lại vội vàng về vị trí cùng khẩu đội sẵn sàng chiến đấu (Y học sẽ giải thích được tình trạng thoáng ngất trong vài giây hoặc một phút).
Về trận địa này, rừng cây xa trận địa phải hơn cây số, bếp anh nuôi đặt trong rừng để tránh máy bay địch phát hiện, Hôm ấy đến lượt thằng Khiếng ( Người làng La Tinh ) làm nuôi quân chẳng biết đi đứng thế nào mà lạc đường nên khoảng 9 giờ tối mới có cơm ăn ( Khiếng sau này cũng hy sinh để lại người vợ mới cưới trước khi nhập ngũ ).
Rồi những đêm oằn lưng chuyển pháo 14,5 ly cho đại đội bạn lên núi cao chót vót . Bốn thằng khênh mâm pháo, nặng quá tưởng gẫy lưng. Có lúc thì nhẹ bỗng, có lúc tưởng như trọng lượng của mâm pháo dồn cả về mình.
Và những đêm trong rừng vắng gác kho đạn. Hôm đó đến phiên tôi và anh Bạch Đồng Sinh gác. Khoảng 12 giờ đêm anh Sinh về gọi người ra đổi gác, nhưng chờ mãi, chờ mãi chẳng thấy ai ra. Tôi cũng không dám bỏ vị trí đành một mình đứng cho tới sáng. Thỉnh thoảng nghe con vật nào đó chạy sột soạt dưới chân hay cành cây kêu lắc rắc lại giật thót người cứ nghĩ bọn phỉ chúng lẩn quất đâu đây.
Tuy gian lao vất vả, nhưng cũng có những lúc vui đáo để, ấy là vào một buổi chiều , trận địa xuất hiện hai cô gái Lào còn trẻ vào đơn vị tôi một vài anh lính cũ bập bẹ tiếng Lào thì hớn hở khen “ Nọong ngăm lai “ có nghĩa là “em đẹp lắm” các cô nhìn nhau khúc khích cười. ..Hai cô gái Lào ngượng đó mặt vội vã bỏ đi.
Rồi chẳng biết bắt đầu từ đâu, từ ai mà từ đại đội đến trung đội thi nhau cạo trọc đầu. Thằng nào cũng có cái đầu trọc lốc , trắng hếu … Xong rồi mới thấy mình dại dột . Bởi trước còn tóc thì tóc nó che cho cái đầu , nay chẳng còn cái tóc nào thì nắng nó tha hồ rọi vào. Lúc nào cũng sùm sụp cái mũ sắt trên đầu càng thêm nóng. lính ta lấy khăn mặt dấp nước rồi chùm lên đầu mới chụp mũ sắt lên, nhưng chỉ một lúc thôi khăn lại khô cong. Quần áo bu dông của chúng tôi lúc này đã chuyến sang màu trắng. Thế là mọi người phải lấy lá lim đun nước lên trộn với bùn rồi ngâm quần áo trở thành loang lổ để ngụy trang.
Sau hơn nửa năm làm nhiệm vụ quốc tế, đầu tháng 12/1965 chúng tôi nhận lệnh được về nước, nhiệm vụ bảo vệ Bạn đã có một tiểu đoàn của quân khu Tây Bắc sang tiếp quản. Niềm vui vỡ òa , tạm biệt Pa Pông, tạm biệt Na Kay, tạm biệt những em gái Sầm nưa xinh đẹp chúng tôi trở về trong vòng tay giang rộng của đất Mẹ Việt Nam .
Chào những “ Anh Lính “ của trung đoàn Na Mèo. May mắn thay cả tiểu đoàn chúng tôi chỉ gửi lại một liệt sỹ của đại đội 14,5 nằm lại nơi này . Những trọng điểm, những nhà ga, những cây cầu trên trục đường 1 đường 5 đang chờ đợi chúng tôi .
Chúng tôi rất hãnh diện bởi ngực thằng nào cũng đỏ chót tấm huy hiệu Quyết Thắng mà cấp trên vừa trao tặng. Sau mười một tháng đeo lon binh nhì, tất cả lính mới chúng tôi đều được lên binh nhất. Xin chào tạm biệt đất nước Triệu Voi anh em.
Tác giả : Lưu Vĩnh Xiêm
Số nhà 40, ngõ 31, tổ 10, Yên Nghĩa, Hà Nội
ĐT: 0352303000





