Trong bữa cơm thân mật của Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Hoài Ân tiếp đón các cựu chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng, nhân kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng Hoài Ân, có một người tuổi đã già, đầu tóc bạc phơ, lại cụt một tay và cả một chân, ngồi mâm bên cạnh tôi cứ khóc ròng rã. Nghe tiếng khóc ông ta, ai cũng nao lòng. Tưởng chừng như xé cả ruột gan: -“Đồng đội ơi!… Mấy đứa bay ơi!… Bay đi mô hết rồi?… Chúng bay để tao ngồi một mình, ri hả?… Ăn sao nổi bay ơi!.. Mấy trăm thằng, mà chừ còn mỗi mấy đứa thôi!… Hu hu!..”.
Tôi gạt vội nước mắt, lần sang chỗ ông ta, giật mình – Ủa! Ai giống Công đen vậy ta? Công, lính đặc công tiểu đoàn 40, hả?… Hai đứa tôi ôm chầm lấy nhau, tưởng như ngất xỉu,rồi cười,rồi khóc,rồi hét toáng lên, như hai người điên già.Tủimừng chan chứa.Ký ức và hiện tại chồng chất lên nhau. Không làm chủ đượccảm xúc,
miệng chúng tôi cười nhưngnhững dòng nước mắt không nén được, cứ trào ra, lăn dài trên má, chảy xuống ướt cả ngực áo…
Nhớ rồi, Công đen thuộc trung đội 2, C1, D40 đặc công. Tôi và Công đen đã từng cùng đi trinh sát và tham gia trận đánh ác liệt GòLoi. Một trận đánh ta giành thắng lợi đẫm máu, với tổn thất nặng nề. Nhưng kết thúc trận ấy, Công không bị thương. Thế mà giờ gặp lại, anh thành ra thân tàn ma dại thế này. Có lẽ anh tham gia một trận đánh khác, khốc liệt hơn trận đánh cao điểm Gò Loi bi tráng ấy. Tôi rất muốn biết sự thể của trận đánh, mà anh đã để lại một chân và một tay. Nhưng anh hình như chưa lấy lại được thăng bằng sau những phút giây buồn tủi trong ngày gặp lại. Hay anh không muốn nhắc lại kỷ niệm quá đau buồn, một trận đánh nhiều tổn thất, nơi anh mất một tay và một chân, cùng phần nhiều đồng đội trận ấy không trở về..?
Hai chúng tôi ôm nhau thổn thức. Cùng nhớ về trận đánh cứ điểm Gò Loi bi tráng. Nơi hai đứa cùng tham gia ngay từ đầu, khi theo đơn vị trinh sát Tổng hợp mới thành lập, có nhiệm vụ đi điều nghiên, chuẩn bị chiến trường, phục vụ trận đánh tiêu diệt cứ điểm Gò Loi. Do tính chất kiên cố, đặc điểm địa hình, do binh lực và hỏa lực địch, Gò Loi thành quyết chiến điểm của một trận đánh lớn. Bởi vậy, cần một đơn vị trinh sát tổng hợp gồm nhiều binh chủng hợp đồng. Và cần thời gian tập dượt trên sa bàn…
Bộ phận trinh sát tổng hợp gồm người của hai đơn vị: Trinh sát Sư đoàn và Trinh sát tiểu đoàn đặc công 40. Trinh sát Sư đoàn, gồm có: Đại đội trưởng Nguyễn Như Hoàng, trung đội trưởng Tô Tấn Tài, Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Khởi. Trinh sát đặc công D40, gồm có: Lê Công và Nguyễn Bảy. Đi với đội hình, còn có trung đội phó thông tin liên lạc Trần Văn Ngân. Chúng tôi có nhiệm vụ nắm đặc điểm địa hình, quân số địch, cách bố phòng, các loại vũ khí địch trang bị, nhằm chuẩn bị cho trận đánh cứ điểm Gò Loi năm 1972.
Gò Loi được coi là “Cánh cửa thép” bắc Bình Định.Đó là một khu đất cao, rộng khoảng 4000m2,nằm ở thôn Tân Thịnh, xã Ân Tường Tây. Gò Loi án ngự ngã ba Tân Thạnh – Ân Tường đến Kim Sơn, Ân Nghĩa, lên Vĩnh Thạnh, vào Bình Khê. Và từ Tân Thạnh, qua đèo Măng Lăng vào tây bắc Phù Mỹ… Được quân đội Mỹ tập trung xây dựng từ 1966, biến thành cứ điểm kiên cố bậc nhất ở phía bắc Bình Định…
Ở đây, địch xây dựng ba lớp vành đai, lô cốt dày đặc, bố trí theo kiểu vành nón, từ chân lên đến đỉnh. Mỗi lớp có một dãy tường đất cao 3 mét. Xung quanh, được bảo vệ bằng 24 hàng rào kẽm gai, với đầy rẫy những bãi mìn nguy hiểm. Ở đây còn có trận địa pháo 105 ly, sân bay dã chiến rộng 60m dài 800m. Túc trực, là Liên đoàn Bảo an số 48 Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ. Do tên đại úy khét tiếng Ngô Huỳnh chỉ huy, Hắn đã từng ngạo mạn tuyên bố: -“Chừng nào nước Kim Sơn chảy ngược, thì mới mất được Gò Loi!”
Xung quanh Gò Loi, có một mạng lưới chốt vòng ngoài bảo vệ, như chốt Đây En, Đồi Đá, Gò Dê, Gò Thị,Cầu bến Vách, Bàu Sen…
Để chuẩn bị cho chiến dịch Xuân Hè 1972 – 1973,và thấy được tầm quan trọng của cứ điểm Gò Loi, trước chiến dịch, đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân Khu 5, đã vào tận bản doanh Sư đoàn 3 Sao Vàng. Hơn thế,ông cũng trực tiếp đến giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn Đặc công 40. Sau khi nhấn mạnh tầm quan trọng về chiến lược của cứ điểm GòLoi, ông nhấn mạnh: “Nếu đánh không thắng, thì các đồng chí có tội với đất nước với nhân dân!”. Ông khẳng định đanh thép như một mệnh lệnh:- “Các đồng chí chỉ có quyền tính thắng lợi! Không có quyền tính đến thất bại, thương vong!”
Suốt 6 tháng trời, tổ Trinh sát Sư đoàn, trực tiếp cùng đi trinh sát với tiểu đoàn 40 đặc công. Không quản gian lao, nguy hiểm, cho việc chuẩn bị chiến trường này.
Chúng tôi nghiên cứu 6 hướng vào, sờ từng lô cốt, từng ụ pháo. Nghiên cứu cách rải đường dây điện thoai sao cho qua mắt địch. Có khi phải nằm lại trong hàng rào đến vài ngày, để định hướng và vẽ bản đồ…
Tôi nhớ mãi hình ảnh một trung đội trưởng Lê Công, hoạt bát nhanh nhẹn, nhanh như sóc,và một đại đội trưởng trinh sát Sư đoàn Nguyễn Như Hoàng, mưu trí dũng cảm.Đã có lần các anh ấy, bị bọn địch đi tuần đêm,tiểu tiện trúng lên cả đầu.
Ban tham mưu tác chiến Sư đoàn 3 và Ban chỉ huy tiểu đoàn 40 đặc công, lại khẩn trương bắt tay vào đắp sa bàn, mở lớp tập huấn.Thảo luận,bàn đi bàn lại cách đánh, phương án đánh, dự trù những tình huống xấu nhất. Đồng chí Chu Huy Mân, tư lệnh quân khu 5 cùng dự, bổ sung nhiều ý kiến. Trong đó, có một ý kiến,mà đến bây giờ,chúng tôi cùng các cán bộ tiểu đoàn 40 đặc công còn nhớ mãi. Đồng chí Chu Huy Mân cầm thước xoay xoay trên sa bàn một lúc, rồi đột nhiên chỉ thẳng vào hướng cửa chính trung tâm, và cười nói: -“Theo tôi, nếu được chỉ huy, tôi đánh thẳng vào cửa chính,thọcthẳng lên sân bay!..”
Ý kiến này, sau đó được đơn vị tiếp thu, và kịp triển khai một mũi đánh thẳng, với lực lượng mạnh. Gồm 10 chiến sĩ với 5 khẩu B40, vượt qua cổng chính, do đồng chí Trần Công Khanh, trung úy Chính trị viên phó tiểu đoàn, làm mũi trưởng, và đồng chí Tình, quê Hải Phòng,xạ thủ B40, làm mũi phó.
Đêm 7/4/1972, Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn 3 Sao Vàng, bí mật dời Sở chỉ huy xuống Dốc Sung, để trực tiếp chỉ huy trận đánh. Trong đó, có cả Tư lệnh Sư đoàn Huỳnh Hữu Anh…
Các mũi được sắp xếp, lưa chọn, bố trí hết sức chu đáo và cẩn trọng. Là đội ngũ cán bộ giỏi, đã có kinh nghiệm và có thành tích chiến đấu giỏi, được ghi nhận.Chính trị viên và tiểu đoàn trưởng,được phân xuống làm mũi trưởng. Các đại đội trưởng và chính trị viên đại đội, xuống mũi phó. Cụ thể: – mũi từ Bến Vách đánh lên,do chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Quang Phụ và Lâm Quang Lự phụ trách. Mũi từ Bàu Sen đánh lên, do chính trị viên đại đội Thanh Bá phụ trách. Mũi từ GòThị đánh lên, do tiểu đoàn phó Nguyễn Thanh Đống phụ trách.Mũi đánh thẳng vào cửa chính, do chính trị viên phó tiểu đoàn Trần Công Khanh phụ trách… 19 giờ 30 ngày 8/4/1972, 40 chiến sỹ đặc công tiểu đoàn 40, đã có mặt tại Động Bích, cách Gò Loi khoảng 700m.Sau khi chấn chỉnh đội ngũ, ngụy trang,kiểm tra vũ khí,tiếng động, chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Quang Phụ và Tiểu đòan trưởng Lâm Quang Lự, đến bắt tay từng người, động viên, dặn dò từng chiến sỹ: – “Dù có hy sinh đến người cuối cùng, cũng phải đập nát bằng được cứ điểm Gò Loi!”. Các chiến sỹ cảm tử, ai cũng hăm hở và xin thề: – “Quyết đánh tan Gò Loi, mới quay về!”.
Vào lúc1giờ đêm, ngày 9/4/, đại đội trưởng Lương Ngọc Chiến giật quả bộc phá 20 kg đầu tiên, khai hỏa, phá toang cửa mở. Tức thì, 6 mũi ào ạt đánh thốc lên. Tiếng B40, B41, lựu đạn, xé rách cả trời đêm Ân Tường Tây.
Sau mấy phút chết lặng vì bị đánh bất ngờ, bọn địch hồi tỉnh. Chúng dựa vào lô cốt bê tông, phản đòn như mưa. Các chiến sỹ hy sinh ngày càng nhiều. Họ bị giam trong các hàng rào bùng nhùng, làm bia cho chúng. Pháo sáng rõ như ban ngày. Bộ đội ta hy sinh trong nhiều tư thế. Nằm vắt qua hàng rào. Mắc kẹt giữa hàng rào,đầu mình đang hướng về phía trước.
Mũi tiền tiêu số 1 do đồng chí Nguyễn Quang Phù và Lâm Quang Lự phụ trách, áp sát đến lô cốt phía Đông, cột bọc phá vào cây tre dài, châm ngòi, đặt áp vào thành lô cốt, nhưng không may thành cao 3m, khối bọc phá nặng, cây chống ngã nghiêng, rơi xuống, tạo nên một tiếng nổ khủng khiếp.Đồng chí Nguyễn Quang Phụ và một số đồng chí hi sinh tại cửa mở. Đồng chí Lâm Quang Lự sau khi quay ra tại cầu Bến Vách bị địch phục và hi sinh tại đó. Mũi chính trị viên phó Trần Công Khanh đánh vào hướng cửa chính, sau mấy giây bối rối vì quả mìn thổi hàng rào không nổ, nhưng 5 khẩu B40, B41 đã đồng loạt phát huy hết tác dụng. Những quả đạn với ý chí và lòng căm thù nóng bỏng, tới tấp phá nát những lô cốt và công sự địch. Cứ điểm Gò Loi chìm trong khói lửa mịt mù. Các chiến sỹ còn lại, hết lớp này đến lớp khác, cứ ào ạt xông lên. Xác địch chất ngổn ngang, phủ kín mặt đất Gò Loi.
Đến 2 giờ sáng, ta và địch vẫn giằng co quyết liệt, chưa dứt điểm. Mũi Gò Thị của chính trị viên phó Thanh Đống, bị địch khống chế, không tiến lênđược. Một số hy sinh, còn một số buộc phải chạy dạt xuống chân đồi. Lúc đó,trưởng ban tác chiến Sư đoàn Nguyễn Duy Thương xuất hiện ngay sát hàng rào, đốc thúc. Giọng ông dứt khoát, như một mệnh lệnh, vang lên trong máy: – “Nếu 15 phút nữa không giải quyết được, thì sẽ thay tiểu đoàn 3”
2 giờ kém 15, sau khi dùng súng phun lửa và mấy cân bộc phá, đánh sập hầm ngầm của chúng, thì ta mới chính thức làm chủ hoàn toàn cứ điểm Gò Loi.
Trận đánh diệt gọn Ban Chỉ huy Liên đoàn Bảo an Số 48. Tiêu diệt 200 tên, phá hủy toàn bộ công sự, kho tàng, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng…
Ấy vậy, nhưng ngậm ngùi thay, 40 chiến sĩ đặc công của Sư đoàn 3 Sao Vàng, chỉ còn lại 12 đồng chí, mình đầy thương tích. Còn 28 chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, hóa thân nằm lại vĩnh viễn với đất đai núi rừng Gò Loi, của mảnh đất Hoài Ân trăm thương ngàn nhớ.
Chiến thắng Gò Loi có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Như một quả đấm thép đầu tiên,làm cho tinh thần binh lính địch phía bắc Bình Định lo sợ, rệu rã, tạo đà cho quân dân ta giải phóng Hoài Ân và 3 huyện thị bắc
Bình Định. Đồng thời cắt đứt đường Quốc Lộ 1, đánh bại chiến đoàn 40, đánh qụy trung đoàn 40 Sư đoàn 22 Việt Nam Cộng hòa.
Tuy nhiên, sau chiến dịch Xuân Hè năm 1972, hầu hết những huyện,thị trên khắp chiến trường miền Nam,mà quân ta đã giải phóng, thì quân địch đã lấy lại. Riêng hai huyện lỵ Hoài Ân và Phước Long, vẫn giữ được nguyên vẹn cho đến ngày toàn thắng 4/75. Đó là một kỳ tích chưa từng có, của quân dân Bình định và Cán bộ chiến sỹ Sư đoàn 3 Sao Vàng anh hùng!..
Tôi vội chùi những giọt nước mắt lăn dài trên má Công. Bàn tay lẩy bẩy, rưng rưng, như nghe trong bàn tay mình có nước mắt và máu. Dìu Công ra góc vắng, Cả hai lặng yên, nhìn lên Trường Sơn xa thẳm, nơi mảnh đất có hơn 22.000 đồng đội đang nằm lại….
Công nắn nắn vào đùi mình hỏi:
– Nghe anh bị thương tại ngã 3 Vũng Tàu ngày ấy, em lo quá… Thương anh nhiều vì bịthương trong giờ phút chót giải phóng Sài Gòn. Em hỏi tin anh hoài mà chừ mới gặp…
Tôi hỏi mãi Công mới chịu kể:
– Em bị thương trong trận Đệ Đức, Hoài Nhơn chiến dịch 1972. Bởi các đơn vị bộ binh của Sư đoàn ta đánh không dứt điểm nên trên điều một bộ phận lính đặc công của đơn vị em vào đánh tiếp. Khi ta phá bung hàng rào, áp sát, thì bọn đich trong các lô cốt, hầm ngầm phản ứng hết sức dữ dội . Bọn chúng chạy dạt sang đồi C và gọi pháo và máy bay bắn trùm lên cứ điểm. Em bị thương nặng trong trận đó….
Qua tâm sự mình biết thêm: Quê Công Thái Thụy, Thái Bình, vào chiến trường miền Nam năm 1965. Anh đã từng đánh hàng chục trận và đã lập nhiều chiến công, từng là đạt danh hiệu Dững sỹ diệt Mỹ cấp 2, cấp 3.
Công kể: – Sau ngày hòa bình lập lại anh ở lại miền Nam, xây dựng gia đình với một thương binh ở tỉnh đội Bình Định. Nay đã có 2 con. Cả 2 đứa đều bị bại liệt , mất trí bởi di chứng chất độc hóa học,. Cuộc sống của gia đình Công hết sức vất vả. Cả 2 con của anh và anh chị cũng chưa làm được chế độ bị ảnh hưởng chất độc da cam.
Nghe chuyện, tôi ôm chặt anh sụt sui. Anh vỗ vào vai tôi an ủi:
– Mà tụi mình còn sống là may lắm rồi anh ạ… còn biết bao đồng chí đồng đội của mình còn bơ vơ chưa về đươc…..
Nhân kỷ niệm ngày 30/4 thống nhất đất nước, chúng ta kính cẩn nghiêng mình, đời đời nhớ đến tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, sự hy sinh quên mình của cán bộ và chiến sỹ tiểu đoàn Đặc công D40 , Sư đoàn 3 Sao Vàng anh hùng, đã viết lên một ” Gò Loi bi tráng
—
Trần Văn Khởi
57 Quang Trung, thị trấn Kiến Giang, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình
Sdt : 0815886432